1. Tòa Hồng Y là gì? Đức Tổng Giám Mục Hà Nội có nhiều khả năng trở thành Hồng Y đầu tiên trong triều Đức Giáo Hoàng Lêô XIV
Tòa Hồng Y, tiếng Anh là Cardinalatial See, hay Cardinatial See, là một giáo phận hoặc tổng giáo phận cụ thể mà theo truyền thống hoặc thông lệ do một Hồng Y đứng đầu.
Theo lịch sử, các tổng giáo phận lớn hay ở một số thành phố quan trọng như Washington, Paris, Westminster, Santiago, Los Angeles, Hà Nội, Venice, Milan được kỳ vọng sẽ có một Hồng Y làm Tổng Giám Mục.
Tuy nhiên, cần nhớ rằng Tòa Hồng Y chỉ là theo truyền thống hoặc thông lệ. Tòa Thánh không chính thức chỉ định Tòa Giám Mục nào là Tòa Hồng Y; và việc bổ nhiệm Hồng Y là một lựa chọn cá nhân của Đức Giáo Hoàng, có nghĩa là tước vị này thuộc về cá nhân vị giám mục chứ không phải gắn liền vĩnh viễn với tòa giám mục nơi ngài cai quản.
Tổng giáo phận Los Anges đã từng có đến 3 vị Hồng Y và vẫn luôn được tin tưởng là một Tòa Hồng Y lớn của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, dưới triều Đức Giáo Hoàng Phanxicô, hết lần này đến lần khác Đức Tổng Giám Mục Los Angeles, José Horacio Gómez, cai quản tổng giáo phận từ năm 2011 đã không được tấn phong Hồng Y, ngay cả trong thời gian ngài giữ chức Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.
Trái lại, vào ngày 28 Tháng Mười Một, 2020, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tấn phong Hồng Y cho Đức Cha Cornelius Sim, người đang là Giám Quản Tông Tòa của Tòa Giám mục Tông tòa Brunei nằm ở phía tây bắc đảo Borneo của vương quốc nhỏ bé Brunei, nơi chỉ có ba nhà thờ Công Giáo và ba linh mục, tất cả đều sinh ra ở đó, bởi vì chỉ những người bản địa mới có thể giữ các chức vụ mục vụ và lãnh đạo giáo xứ.
Lựa chọn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô có thể có những hệ quả tích cực, ít nhất là nhiều quốc gia nơi chưa từng có Hồng Y bao giờ như Brunei, Mông Cổ đã có được các Hồng Y đầu tiên của mình. Tuy nhiên, nhiều người lo ngại rằng tác động của việc tấn phong Hồng Y cho những nơi có ít người Công Giáo như thế sẽ chẳng có bao nhiêu.
Trong trường hợp của Brunei, có thể còn phản tác dụng. Chính quyền Hồi Giáo Brunei cảm thấy khó hiểu trước quyết định tấn phong Hồng Y này và công khai tỏ ra nghi ngờ việc tấn phong Hồng Y cho Đức Cha Cornelius Sim là một "âm mưu của Vatican". Giáng Sinh 2020 đã diễn ra căng thẳng và ngột ngạt hơn bao giờ hết với rất nhiều cấm đoán. Vài tháng sau đó, ngày 29 Tháng Năm, 2021, Đức Hồng Y Cornelius Sim qua đời vì bệnh ung thư tại Đài Loan. Cho đến khi qua đời, ngài vẫn chưa nhận được chiếc mũ đỏ vì đau yếu và tình trạng dịch bệnh Corona virus đang hoành hành. Tình hình Giáo Hội Brunei được ghi nhận là khả quan hơn kể từ đó.
Tóm lại, Tòa Hồng Y chỉ là theo truyền thống hoặc thông lệ; và Đức Giáo Hoàng hoàn toàn có thể tự do quyết định phong Hồng Y cho vị nào ngài muốn.
Nhưng nói như thế, cũng không có nghĩa là khái niệm Tòa Hồng Y chẳng có một kilô gam nào.
Nhìn cách ăn mặc của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, và cách ứng xử của ngài từ khi được bầu làm Giáo Hoàng cho đến nay, nhiều người đồng ý rằng Đức Giáo Hoàng Lêô tỏ ra trọng truyền thống hơn vị tiền nhiệm của ngài. Nếu nhận xét này là đúng, Đức Tổng Giám Mục Hà Nội, Giuse Vũ Văn Thiên có rất nhiều triển vọng xán lạn được tấn phong Hồng Y trong đợt tấn phong Hồng Y đầu tiên dưới triều Đức Giáo Hoàng Lêô.
Thật vậy, theo dòng lịch sử, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã có 4 vị Hồng Y là Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê, Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng và Đức Hồng Y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn. Như thế, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã có truyền thống là Tòa Hồng Y.
Với một vị Giáo Hoàng có khuynh hướng trọng truyền thống như Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, hoàn toàn có cơ sở hợp lý để tin rằng vị Hồng Y thứ năm cai quản tổng giáo phận Hà Nội là Đức Hồng Y Giuse Vũ Văn Thiên.
Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên sinh ngày 26/10/1960, tại Giáo xứ Kẻ Sặt. Ngài gia nhập Đại Chủng viện Thánh Giu-se Hà Nội ngày 23/09/1982; và được thụ phong linh mục tại Hải Phòng ngày 24/01/1988
Ngài du học Paris từ năm 1996 đến 2000 trước khi được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Giám mục Hải Phòng ngày 26/11/2002
Ngài được tấn phong Giám mục tại Hải Phòng ngày 02/01/2003 với Khẩu hiệu Giám mục: "Phục vụ trong niềm vui và hy vọng"
Source:THEPAPALVISIT
2. Nhật ký trừ tà #402: Tại sao địa ngục lại kinh khủng đến vậy?
Đức Ông Stephen Rossetti, Nhà Trừ Tà của giáo phận Syracuse, phó giáo sư nghiên cứu tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ vừa có bài viết nhan đề "Exorcist Diary #402: Why is hell so horrible?", nghĩa là "Nhật ký trừ tà #402: Tại sao địa ngục lại kinh khủng đến vậy?". Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.
Theo mọi lẽ, địa ngục là một nơi khủng khiếp, kinh hoàng. Có vẻ như Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta tuyên xưng là nhân từ, lại không hề nhân từ chút nào. Chính Chúa Giêsu đã nhiều lần nói về địa ngục như một nơi "khóc lóc, than vãn và nghiến răng" (Mt 8:12, 13:42, 13:50, 22:13; 24:51, 25:30 và Luca 13:28). Và mặc dù những lời kể riêng lẻ về địa ngục (như của các trẻ em ở Fatima, Thánh Faustina và Thánh Catherine xứ Siena) không phải là lời chứng thực tuyệt đối vì chúng là những mặc khải riêng tư, nhưng chúng đều tương đối giống nhau. Như một người đàn ông tự nhận đã chết và trải nghiệm địa ngục đã nói: "Tôi không muốn điều đó xảy ra ngay cả với kẻ thù tồi tệ nhất của mình."
Tôi nghĩ chúng ta không thể hiểu được địa ngục là gì cho đến khi chúng ta hiểu rõ hơn về Thiên Chúa. Một cách vô thức, bất chấp những kiến thức thần học tốt nhất của chúng ta, mọi người thường có xu hướng nghĩ về Thiên Chúa như một ông nội hiền lành. Mặc dù đúng là chúng ta gọi Thiên Chúa là "Cha", nhưng thực tế Ngài quyền năng hơn nhiều so với hình ảnh mà con người tạo ra. Thiên Chúa là vô hạn, toàn năng và toàn tri. Đồng thời, Thiên Chúa là tình yêu thuần khiết, như Thánh Gioan đã nói với chúng ta (1 Gioan 4:8). Thiên Chúa là điều tốt lành nhất của chúng ta - điều tốt lành lớn nhất của chúng ta. Được chia sẻ tình yêu và sự thánh thiện vô hạn của Thiên Chúa là một ân sủng vượt quá sự hiểu biết.
Địa ngục là gì? Địa ngục là đánh mất điều tốt đẹp nhất của chúng ta; đó là đánh mất Chúa. Nỗi đau khổ lớn nhất ở địa ngục chính là điều đó: nhận thức rằng chúng ta đã đánh mất Chúa mãi mãi và sự giày vò lương tâm không ngừng vì lỗi lầm của chính mình. Trong cuộc sống này, Chúa luôn luôn dang tay đến với chúng ta, nhưng những người lạc lối đã nhiều lần và cố ý từ chối Ngài. Thực tại của địa ngục thật khủng khiếp bởi vì những gì chúng ta đã đánh mất là điều vô cùng yêu thương và tươi đẹp.
Và sự tồn tại của địa ngục, kỳ lạ thay, lại là một sự thương xót. Đối với những kẻ đã dứt khoát từ bỏ Chúa và chọn bóng tối, ngay cả một chút "ân sủng" hay tia sáng thiêng liêng nhỏ nhất cũng là một sự đau khổ khủng khiếp. Trong một nghi thức trừ tà, chúng tôi chứng kiến điều này: chỉ cần rưới một chút nước thánh lên ma quỷ là chúng sẽ la hét. Bạn có thể tưởng tượng cảm giác của chúng hay những kẻ bị đọa đày khi được trực tiếp ở trước sự hiện diện của Chúa sẽ như thế nào không? Đó thực sự sẽ là một sự tra tấn không thương tiếc.
Để đến gần Chúa và do đó lên thiên đường, chúng ta cần một phẩm chất – đó là tình yêu. Tình yêu theo nghĩa này là lòng bác ái đích thực, không chỉ đơn thuần là một cảm xúc. Đối với Thánh Tôma, bác ái là nền tảng của mọi đức hạnh. Đó là mối dây liên kết chung của tình bạn và tình yêu thương lẫn nhau với Chúa. Lòng bác ái đích thực không thể bị ép buộc; Chúa không thể ép buộc chúng ta yêu Ngài. Theo thánh ý Chúa, tình yêu chỉ có thể được ban tặng cách tự do. Chúa mời gọi chúng ta; yêu thương chúng ta; và hằng ngày ban cho chúng ta mọi ân sủng. Nhưng cuối cùng, nếu chúng ta không có một chút tình yêu nào, sẽ không có chỗ trên thiên đường với Chúa, Đấng là tình yêu.
Thiên đường hay địa ngục? Sự lựa chọn thật khắc nghiệt và đối lập. Điều này là bởi vì chính Thiên Chúa là tình yêu vô hạn vượt quá sự hiểu biết. Không có bi kịch nào lớn hơn việc đánh mất Thiên Chúa: "Người ta được lợi gì khi chiếm được cả thế giới mà mất mạng sống vĩnh hằng?" (Mc 8:36). Và không có niềm vui nào lớn hơn việc tìm thấy Ngài.
Nhưng chúng ta không nên sợ hãi hay tuyệt vọng. Chúa là Đấng yêu thương và nhân từ, Ngài dang rộng vòng tay yêu thương của Cha để chào đón chúng ta. Chúng ta tin rằng đời sống siêu nhiên của ân sủng Chúa thường bắt đầu từ phép rửa tội, được nuôi dưỡng bởi các bí tích, và được làm sống động bởi đức tin của chúng ta vào Chúa Giêsu Kitô và việc sống theo lời rao giảng của Ngài. Hãy bắt đầu mỗi ngày với một tấm lòng rộng mở với Chúa và những lời: "Lạy Chúa, con dâng hiến mỗi giây phút trong ngày hôm nay cho Ngài trong tình yêu thương."
Khi đời sống tâm linh của chúng ta trong Chúa ngày càng phát triển, chúng ta sẽ trở nên giàu có về ân sủng. Như Kinh Thánh đã dạy: "Ai có, sẽ được ban thêm, người ấy sẽ càng giàu có; ai không có, thì ngay cả những gì người ấy có cũng sẽ bị lấy đi" (Mt 13:12).
Source:Catholic Exorcism
3. Tiến sĩ George Weigel: Một người thầy tuyệt vời và một bản tuyên ngôn đáng hoan nghênh
Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề "A Great Teacher and a Welcome Manifesto", nghĩa là "Một người thầy tuyệt vời và một bản tuyên ngôn đáng hoan nghênh".
Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.
Mặc dù tôi không muốn can thiệp vào Hiến pháp Hoa Kỳ, nhưng tôi sẵn sàng xem xét một sửa đổi cấm bất kỳ trường tiểu học nào mở cửa trước Ngày Lao động.
Đó là cuộc sống của tôi khi còn là một cậu bé ở Baltimore, và tôi không thể tưởng tượng nổi việc phải đến trường trước Ngày Lao động cũng như không thể tưởng tượng nổi việc cổ vũ cho đội New York Yankees. Ngày Lao động đánh dấu sự kết thúc của kỳ nghỉ hè: Ocean City, Maryland, đã vắng tanh vài ngày trước đó; mẹ tôi đưa tôi và anh trai đến cửa hàng Stewart’s ở trung tâm thành phố Baltimore để mua đồng phục học sinh mới (thường thì quần đã rách đầu gối vào tháng Mười); tại cửa hàng tạp hóa McCrory’s, chúng tôi chọn hộp cơm trưa mới (Roy Rogers? Superman?); và chúng tôi hồi hộp chờ đợi xem nữ tu nào của Dòng Nữ tu Notre Dame sẽ làm chủ nhiệm lớp học của chúng tôi cho đến tháng Sáu.
Vào những ngày tháng ngây thơ ấy, những điều này dường như bất biến như định luật hấp dẫn.
Vậy là vào đầu một năm học mới, dù bắt đầu sớm đến mức phi lý, tôi nhớ lại tháng 9 năm 1959 và những tuần đầu tiên của lớp ba tại Trường Nhà thờ, khi đó tọa lạc tại số 7 đường West Mulberry, cách tòa nhà Công Giáo lịch sử nhất nước Mỹ, Vương cung thánh đường Đức Mẹ Lên Trời, chỉ một quãng ngắn.
Tôi không nhớ lớp hai của tôi lại đặc biệt ồn ào khi chúng tôi được chuẩn bị cho lần xưng tội đầu tiên và lần rước lễ đầu tiên dưới sự hướng dẫn nghiêm khắc nhưng nhân hậu của Sơ Mary Francis Borgia, SSND. Tuy nhiên, chắc hẳn chúng tôi là một học sinh khó bảo, bởi vì khi nữ tu lớn tuổi dự định dạy lớp ba của chúng tôi bị ốm và được thay thế bởi một nữ tu tập sự, Sơ Barbara, rõ ràng chúng tôi đã khiến cô gái trẻ tội nghiệp ấy phát điên, vì sơ ấy chỉ dạy được có hai tuần (nếu tôi nhớ không nhầm). Rồi sự thay đổi đến từ một nữ tu SSND trẻ hơn nữa, một ứng viên tên là Sơ Florence. Và tôi tạ ơn Chúa vì điều đó.
Sơ Florence Sweeney (sau này khấn trọn đời với tên gọi Sơ Miriam Jude, SSND) từng là giáo viên trường công lập Philadelphia trong vài năm trước khi vào tu viện, và cuộc sống giữa những thanh niên ngỗ nghịch ở Thành phố Philadelphia là sự chuẩn bị tốt để uốn nắn chúng tôi. Sơ Florence không dung thứ cho sự vô kỷ luật, và nếu lúc đó chúng tôi thấy sơ hơi đáng sợ, thì tình yêu thương nghiêm khắc của sơ đã giúp ích rất nhiều cho tôi. Tôi không nhớ sơ hay la hét, nhưng giọng điệu của sơ cho thấy rõ ràng sơ là người nắm quyền, dù là dạy chúng tôi học thuộc lòng bảng cửu chương (bằng cách đọc đi đọc lại vô tận) hay dạy chúng tôi đọc Kinh Lạy Cha đúng cách (nhấn mạnh vào âm tiết đầu tiên của từ "trespass", một thói quen tôi vẫn giữ đến ngày nay).
Chính Sơ Florence là người bắt gặp tôi lén lút đi lên lối đi bên cạnh vì tôi không thể đọc được bài tập về nhà trên bảng từ hàng ghế cuối cùng – và nhờ đó phát hiện ra tật cận thị dẫn đến việc tôi phải đeo kính lần đầu tiên. Chính Sơ Florence đã khuyến khích niềm đam mê lịch sử chớm nở của tôi và lấy trộm một bản sao bài kiểm tra về Thế chiến II của lớp tám để tôi có thể so tài kiến thức với những người lớn tuổi hơn và giỏi hơn mình. (Tôi vẫn còn nhớ mùi mực ướt ngọt ngào từ những chiếc máy photocopy Ditto cũ kỹ đó.) Và chính Sơ Florence, một người từng bán bách khoa toàn thư vào mùa hè, đã thuyết phục cha mẹ tôi mua bộ bách khoa toàn thư World Book gồm mười chín tập, mà tôi đã say mê khám phá trong nhiều năm với niềm vui sướng tột cùng và phải chia tay một cách miễn cưỡng nhất sau khi cha mẹ tôi qua đời.
Rất lâu sau khi sơ trở thành Sơ Miriam Jude, vợ chồng tôi tình cờ gặp lại sơ trong một buổi họp mặt cựu sinh viên tại Đại học Notre Dame ở Maryland, nơi vào một buổi tối mùa hè, chúng tôi cùng nhau thưởng thức cua hấp và ôn lại những kỷ niệm. Sơ đã về với Chúa từ lâu, nhưng tôi nhớ đến sơ khi đọc Tuyên bố Front Royal gần đây, một sự tái khẳng định bảy nguyên tắc kinh điển của giáo dục tiểu học và trung học Công Giáo và một bản tuyên ngôn cải cách mà tôi nghĩ Sơ Miriam Jude sẽ tán thành. Và các giám mục, trong cuộc họp năm 1884 tại Nhà thờ Cổ Baltimore, vương cung thánh đường mà tôi có rất nhiều kỷ niệm đẹp, cũng sẽ tán thành, khi các ngài ban hành quy định thành lập trường học Công Giáo ở mọi giáo xứ tại Hoa Kỳ.
Điều đó không thể thực hiện được ngày nay. Nhưng các trường Công Giáo mà chúng ta có phải giữ vững bản sắc Công Giáo một cách chân thành và không hề e ngại, truyền bá đức tin và truyền thống văn minh phương Tây vĩ đại trong nghệ thuật và khoa học, vì lợi ích của những tâm hồn trẻ thơ và sự đổi mới văn hóa dân tộc của chúng ta. Hãy bắt đầu năm học mới một cách tốt đẹp bằng cách chia sẻ tuyên bố này với các linh mục quản xứ và hiệu trưởng của mọi trường Công Giáo mà bạn có liên hệ.
Source:First Things