
Báo cáo SOFI mới của Liên Hợp Quốc cho thấy số người suy dinh dưỡng ở châu Á tiếp tục giảm, mặc dù vẫn còn những bất cân bằng đáng kể trong khu vực. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng năng lượng kéo dài ở Trung Đông có thể làm tăng số người đói trên lục địa này thêm 10 triệu người vào năm 2030.
Tạp chí AsiaNews số ngày 22 tháng 7 năm 2026 cho biết như trên. Sau đây là bản tin của họ:
New York (AsiaNews) – Lần đầu tiên kể từ khi thế giới đặt mục tiêu xóa bỏ nạn đói vào năm 2030 cách đây một thập niên, châu Á đã tụt hậu so với châu Phi về số lượng tuyệt đối người đói, theo ấn bản mới nhất của báo cáo uy tín nhất về chủ đề này, Tình trạng An ninh Lương thực và Dinh dưỡng trên Thế giới (SOFI), được công bố bởi các cơ quan của Liên Hợp Quốc chuyên về lương thực và sức khỏe: FAO, IFAD,[*] UNICEF, Chương trình Lương thực Thế giới và Tổ chức Y tế Thế giới.
Đây không phải là dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng đột ngột ở lục địa châu Phi (thực tế, nơi đang cho thấy những dấu hiệu chuyển biến tích cực đầu tiên sau một thập niên tình hình ngày càng xấu đi), mà là hình ảnh phản ánh xu hướng tích cực ở châu Á, một xu hướng đã tiếp diễn gần như không gián đoạn kể từ khi đại dịch năm 2020 dẫn đến sự gia tăng đột biến về số lượng người suy dinh dưỡng.
Số liệu châu Á
Năm 2010, gần hai phần ba số người suy dinh dưỡng trên thế giới sống ở châu Á. Ngày nay, tỷ lệ này gần như đảo ngược, với 45% ở châu Á và 48% ở châu Phi. Về mặt tuyệt đối, châu Á đã chứng kiến số lượng người suy dinh dưỡng giảm từ 396 triệu xuống còn 292 triệu trong 15 năm, trong khi châu Phi tăng từ 171 triệu lên 309 triệu.
Khu vực Mỹ Latinh và Caribe cũng đang theo xu hướng tích cực này, với tỷ lệ người bị đói giảm xuống còn 4.8%, thấp hơn mức trước đại dịch. Châu Đại Dương lại là một câu chuyện khác, vẫn giữ nguyên tỷ lệ 8.0% mà không có dấu hiệu chuyển biến tích cực.
Tuy nhiên, trong khu vực châu Á, không phải tất cả các vùng đều tiến bộ với tốc độ như nhau. Khu vực Đông Nam Á là động lực thúc đẩy sự cải thiện, nơi tỷ lệ đói giảm từ 5.6% năm 2021 xuống còn 5.1%, và đặc biệt là Nam Á, nơi tỷ lệ đói giảm từ 13.9% xuống còn 9.3% trong vòng bốn năm, mặc dù đây vẫn là tâm điểm của vấn đề đói nghèo ở châu Á, với gần 195 triệu người đang phải chịu đựng nạn đói.
Tuy nhiên, có một ngoại lệ đáng chú ý hơn cả: Tây Á (bao gồm Caucasus và Trung Đông), nơi nạn đói đang gia tăng chứ không giảm, từ 9.3% năm 2015 lên 13% hiện nay, tỷ lệ cao nhất ở toàn châu Á.
Tác động của chiến tranh ở Trung Đông
Điều này liên quan đến cuộc xung đột ở Trung Đông. Các nhà nghiên cứu của FAO đã xây dựng ba kịch bản để hiểu những hậu quả có thể xảy ra đối với mức độ đói nghèo trên thế giới trong những năm tới. Nếu thị trường năng lượng nhanh chóng trở lại bình thường, số người suy dinh dưỡng trên thế giới có thể giảm xuống còn 503-511 triệu người. Nhưng nếu cuộc khủng hoảng kéo dài, với giá dầu, khí đốt và phân bón cao (do thiệt hại về cơ sở hạ tầng ở các nước xuất khẩu vùng Vịnh Ba Tư gây ra), con số này có nguy cơ tăng lên 522 triệu người vào năm 2030, tức là tăng từ 11 đến 19 triệu người.
Châu Á là khu vực sẽ phải trả giá đắt nhất. Trong kịch bản khủng hoảng kéo dài, khoảng 10 triệu người châu Á nữa sẽ phải chịu đói vào năm 2030. Để so sánh, ước tính đối với châu Phi, trong cùng kịch bản, là tăng thêm 8 triệu người.
Lý do rất đơn giản: Châu Á nói chung là nước nhập khẩu ròng nhiên liệu hóa thạch, trong khi Mỹ Latinh, mặt khác, nơi xuất khẩu tài nguyên, lại thực sự được hưởng lợi.
Do đó, Trung Đông dường như là hình ảnh báo trước về những gì có thể xảy ra với phần còn lại của châu Á nếu cuộc khủng hoảng ở eo biển Hormuz (hay Bab el-Mandeb) tiếp diễn trong thời gian dài. Đồng thời, báo cáo cũng lưu ý rằng Dải Gaza, cùng với Yemen và Afghanistan, tiếp tục đại diện cho cuộc khủng hoảng lương thực cấp tính nghiêm trọng nhất thế giới.
Một lục địa với nhiều tốc độ phát triển
Dữ liệu về khả năng tiếp cận lương thực cũng cho thấy sự cải thiện ở hai tốc độ. Năm 2025, 20.3% dân số châu Á trải qua tình trạng mất an ninh lương thực ở mức độ vừa hoặc nghiêm trọng, so với 22.1% vào năm 2024: giảm gần 77 triệu người chỉ trong 12 tháng. Đây là một tiến bộ đáng kể, ngay cả khi vấn đề này vẫn ảnh hưởng đến một phần năm dân số của lục địa đông dân nhất thế giới.
Nhưng trong khi nạn đói giảm, thực phẩm lành mạnh lại ngày càng trở nên đắt đỏ. Giá trung bình của một chế độ ăn uống lành mạnh ở châu Á đã tăng lên 4.33 đô la Mỹ (theo sức mua tương đương) mỗi người mỗi ngày vào năm 2025, tăng từ 3.00 đô la Mỹ vào năm 2017, đạt đỉnh điểm ở mức 5.19 đô la Mỹ tại Đông Nam Á.
Tin tốt là, bất chấp giá cả tăng cao, ngày càng nhiều người châu Á vẫn có khả năng chi trả. Tỷ lệ người không đủ khả năng chi trả đã giảm từ 43.1% xuống 28.9% trong tám năm, với mức giảm mạnh nhất ở Nam Á, từ 57.9% xuống 39.0%.
Tuy nhiên, vì châu Á là nơi sinh sống của phần lớn dân số thế giới, nên đây vẫn là khu vực có số người bị loại trừ khỏi chế độ ăn uống lành mạnh lớn nhất, với 1.4 tỷ người, nhiều hơn cả châu Phi và châu Mỹ Latinh cộng lại.
Một hệ thống vẫn còn mong manh
Ngoài các cuộc chiến tranh ra, các biến động về thời tiết, khí hậu và kinh tế khiến giá cả biến động mạnh từ năm này sang năm khác cũng có tác động đáng kể đến khả năng tiếp cận thực phẩm lành mạnh.
Báo cáo đưa ra một số ví dụ. Từ năm 1998 đến năm 2012, các cơn bão nhiệt đới ở Trung Quốc đã làm tăng giá bán lẻ trung bình 2..3%, trong đó rau tươi có mức tăng cao nhất (+6%).
Năm 2024, một đợt nắng nóng ở Hàn Quốc đã khiến giá bắp cải tăng 70% chỉ trong vài tuần, trong khi ở Sri Lanka, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2021-2022 đã làm tăng gấp đôi giá các loại đậu và tăng giá ngũ cốc, thịt gà, cá và trứng hơn 50%.
Những trường hợp này minh họa sự mong manh của hệ thống lương thực ảnh hưởng đến các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình như thế nào, thậm chí cả Trung Quốc.
Một số ví dụ cụ thể minh họa mối tương quan giữa giá cả thực phẩm và các yếu tố khác. Ví dụ, tại Indonesia, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng chỉ cần cải thiện chất lượng đường sá 1% cũng làm giảm giá thực phẩm dễ hư hỏng gần như cùng một mức, bởi vì đôi khi vấn đề không phải là sản xuất nông nghiệp, mà là khó khăn trong việc vận chuyển mùa màng đến thị trường.
Tương tự, tại Nepal, một dự án đã kết nối các nhà sản xuất nhỏ lẻ ở vùng núi phía tây với thị trường thành phố, làm giảm giá trái cây, rau quả và protein động vật đồng thời tăng thu nhập cho nông dân.
Con đường (vẫn còn) dài cho phụ nữ và trẻ em
Châu Á cũng đang hướng tới năm 2030 khi nói đến dinh dưỡng trẻ em, sau khi đã vượt qua nửa chặng đường. Lục địa này đang trên đà đạt được các mục tiêu về suy dinh dưỡng thấp còi và thừa cân ở trẻ em, một mục tiêu mà cả châu Phi và châu Mỹ Latinh đều không thể đạt được đầy đủ, theo các dự báo hiện tại. Châu Á cũng đang có những tiến bộ đáng kể về chỉ số nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời, tăng từ 39.1% lên 51.4% trẻ sơ sinh trong giai đoạn 2012-2024, mặc dù khó có thể đạt được ngưỡng 60% do Tổ chức Y tế Thế giới đặt ra làm mục tiêu cho năm 2030.
Đáng lo ngại hơn là dữ liệu về tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính và đặc biệt là thiếu máu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm nhẹ, từ 9.7% xuống 9.1% trong giai đoạn 2012-2024, trong khi mục tiêu là 5%.
Nam Á một lần nữa gánh chịu gánh nặng lớn nhất, ở mức 13.6%, con số cao nhất trong tất cả các tiểu vùng trên thế giới.
Ngược lại, xu hướng thiếu máu thực tế đã đảo ngược; Thay vì giảm một nửa như dự kiến, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ châu Á từ 15-49 tuổi đã tăng từ 30.6% năm 2012 lên 33.6% năm 2023, trong đó Nam Á là 49.3%, gần một nửa số phụ nữ.
Báo cáo dự đoán rằng khoảng cách này sẽ tiếp tục nới rộng trong những năm tới thay vì thu hẹp. Nguyên nhân của sự mất cân đối này nằm ở bản chất của bệnh thiếu máu, một tình trạng có thể có nhiều nguyên nhân, bao gồm một số thiếu hụt dinh dưỡng và nhiều loại nhiễm trùng khác nhau.
Thêm vào đó là vấn đề về sự khan hiếm các chất bổ sung sắt và axit folic trong thời kỳ mang thai, vốn vẫn còn thấp trên toàn thế giới, khiến hàng triệu phụ nữ có nguy cơ bị thiếu máu và biến chứng thai kỳ.
________________________________________
[*] Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế.