Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “Keeping a Republic: A 250th Birthday Meditation”, nghĩa là “Giữ gìn nền Cộng hòa: Suy ngẫm nhân kỷ niệm 250 năm ngày thành lập.”.

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Khi chúng ta kỷ niệm 500 năm ngày Quốc khánh vào ngày 4 tháng 7, chúng ta có thể suy ngẫm về câu trả lời của Benjamin Franklin dành cho Elizabeth Willing Powell, khi vị hiền triết già rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787 và người phụ nữ quý tộc Philadelphia hỏi: “Thưa Tiến sĩ Franklin, chúng ta có gì, một nền cộng hòa hay một chế độ quân chủ?” Franklin đã đáp lại một cách nổi tiếng rằng: “Một nền cộng hòa, nếu các bà có thể giữ gìn nó.” Câu trả lời ngắn gọn đó nhấn mạnh một thực tế cơ bản về Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: rằng chúng ta là một cuộc thử nghiệm dân chủ về tự quản cộng hòa, và việc thử nghiệm này vẫn đang tiếp diễn. Và trong thực tế đó ẩn chứa một chân lý được ngụ ý, nếu không muốn nói là rõ ràng, trong Tuyên ngôn Độc lập: Cần một số lượng lớn người dân, sống theo những đức tính nhất định, để giữ cho cuộc thử nghiệm đi đúng hướng - để bộ máy chính trị của một nền cộng hòa dân chủ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân và tình đoàn kết xã hội.

Coi nền cộng hòa của chúng ta là điều hiển nhiên chắc chắn sẽ dẫn đến việc đánh mất nó vào tay một hình thức độc tài nào đó. Nếu muốn giữ gìn nó, chúng ta phải nỗ lực. Và điều đó đòi hỏi sự hy sinh. Vì vậy, khẩu hiệu ngắn gọn tại Đài tưởng niệm Cựu chiến binh Chiến tranh Triều Tiên trên Quảng trường Quốc gia — “Tự do không phải là nhưng không mà có” — không chỉ nói lên món nợ chúng ta dành cho những người đã hy sinh tối cao, từ Lexington đến các bãi biển Normandy và hồ Chosin cho đến ngày nay. Câu nói “Tự do không phải là nhưng không mà có” nhắc nhở chúng ta rằng mỗi công dân đều phải đối mặt với thách thức sống tự do một cách cao thượng, vì lợi ích chung, nếu muốn cuộc thử nghiệm đưa nước Mỹ đến thịnh vượng, thậm chí là để nước Mỹ tồn tại được.

Sáu mươi sáu năm sau khi xuất bản, cuốn sách “Chúng ta nắm giữ những chân lý này: Suy ngẫm Công Giáo về đề xuất của nước Mỹ” của John Courtney Murray vẫn là một phân tích sâu sắc, dựa trên lý thuyết chính trị Công Giáo kinh điển, về những yếu tố đã làm nên nước Mỹ. Trong cuốn sách đồ sộ đó, Cha Murray đã đi sâu vào nền tảng của việc thành lập nước Mỹ, một công trình mà ngài không chỉ quy cho triết gia Khai sáng thế kỷ XVII John Locke (không giống như Patrick Deneen và những người khác). Bằng cách đó, Murray đã khai quật những gốc rễ khái niệm sâu xa nhất, những ý tưởng nền tảng, cuối cùng sẽ là nền tảng của Tuyên ngôn Độc lập.

Ý tưởng đầu tiên là sự cai trị của Chúa trải rộng khắp các quốc gia cũng như cá nhân. Khi Chúa Giêsu phân biệt những điều thuộc về Chúa với những điều thuộc về Caesar, Ngài đang dạy rằng quyền lực của Caesar bị giới hạn. Do đó, gốc rễ sâu xa và vững chắc nhất của niềm tin Mỹ về chính phủ hạn chế và tự do tôn giáo là Mt 22:21, chứ không phải Hai Luận Thuyết về Chính phủ Dân sự của Locke. Những người theo chủ nghĩa toàn diện Công Giáo, những người theo chủ nghĩa hậu tự do và những người theo chủ nghĩa thế tục tiến bộ, xin hãy lưu ý.

Ý tưởng nền tảng thứ hai, vô cùng quan trọng đối với Tuyên ngôn Độc lập mà chúng ta đang kỷ niệm 50 năm ngày tuyên bố, là chúng ta là những tạo vật – không phải bụi sao đông đặc hay thuật toán biết đi – mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho chúng ta khả năng trí tuệ, tinh thần và đạo đức để tự quản lý bản thân. Hãy lắng nghe chương đầu đầy cảm xúc của bản nhạc “Di chúc Tự do” của Randall Thompson, suy ngẫm về văn bản mang đậm tinh thần Jefferson (“Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng ta sự sống, cũng đồng thời ban cho chúng ta tự do; bàn tay của vũ lực có thể hủy diệt nhưng không thể chia lìa chúng”), và dành vài khoảnh khắc trong ngày Quốc khánh 4 tháng 7 để suy ngẫm xem liệu những “bàn tay của vũ lực” khác có đang hoạt động trong quốc gia chúng ta ngày nay, đe dọa sự hủy diệt hay không. (Cá nhân tôi, nghĩ đến những lời dối trá thô tục của những kẻ ba hoa trên mạng xã hội và những người dẫn chương trình podcast bài Do Thái chính xác theo những thuật ngữ đó.)

Vì chúng ta có khả năng tự quản do Chúa ban cho, nên sự quản trị công bằng phải dựa trên sự đồng thuận của người dân: “Chúng ta, nhân dân” có quyền được những người cai trị lắng nghe ý kiến về các vấn đề liên quan đến lợi ích chung. Hơn nữa, “nhân dân” có trong mình bản năng công lý cần được nuôi dưỡng bởi một nền văn hóa đạo đức công cộng sôi động: Bầu không khí văn hóa mà chúng ta hít thở cần phản ánh những chân lý vốn có về con người mà chúng ta có thể biết được bằng lý trí (và, người Công Giáo sẽ nhấn mạnh, bằng mặc khải). Đó là hai ý tưởng nền tảng thứ ba và thứ tư tạo nên gốc rễ của cây tự do Mỹ.

Tóm lại, những chân lý được nêu rõ hoặc ngụ ý trong Tuyên ngôn Độc lập được gói gọn trong chân lý quan trọng này: Chỉ có một dân tộc đức hạnh mới có thể sống trong tự do sao cho các cá nhân phát triển mạnh mẽ trong một xã hội đoàn kết. Chỉ có một dân tộc đức hạnh mới có thể sống trong tự do sao cho tự do, khi bị tha hóa thành sự phóng túng, không làm tha hóa các thể chế tự do đến mức các thể chế đó sụp đổ thành chuyên chế.

Lời khẳng định mà các nhà lập quốc Hoa Kỳ đưa ra cách đây 250 năm không phải là chính phủ tự do là điều tất yếu. Lời khẳng định là chính phủ tự do là điều khả thi. Và như Tiến sĩ Franklin đã nhắc nhở bà Powell, khả năng đó sẽ được thử thách hết lần này đến lần khác. Chắc chắn nó đang được thử thách ngày nay. Vì vậy, khi chúng ta tạ ơn Chúa vì món quà là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, hãy nhắc nhở bản thân và lẫn nhau rằng tự do không phải là sự phóng túng và tự do không bao giờ là nhưng không mà có.


Source:First Things