VATICAN (Zenit.org).-Bài giảng của Cha Raniero Cantalamessa, người giảng Phủ Giáo hoàng, giảng trong nghi lễ Thứ sáu Tuần Thánh tại Đền Thờ Thánh Phêrô
****
Thân xác thật, Thật sự được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria
Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2005, năm Thánh Thể! Ánh sáng nào được chiếu trên hai mầu nhiệm này khi chúng ta nghĩ tới cả hai một lượt! Và một câu hỏi được khơi lên. Nếu Thánh Thể là "sự kỷ niệm cuộc Thương Khó," tại sao Giáo Hội không cử hành Thánh Thể vào chính ngày thứ sáu Tuẩn Thánh? ( Bởi vì bây giờ chúng ta tập hợp để tham dự, không phải một Thánh Lễ, nhưng đúng hơn cử hành phụng vụ tưởng niệm cuộc Thương Khó trong đó chúng ta sẽ rước Mình Chúa Kitô được truyền phép hôm qua.)
Có một lý do thần học sâu xa cho việc này. Đấng hiện diện trên bàn thờ trong tất cả Thánh Thể là Chúa Kitô, không chết nhưng sống lại và sống động. Và như vậy Giáo Hội không củ hành Thánh Thể trong hai ngày này khi chúng ta nhớ Chúa Giêsu nằm chết trong mồ, linh hồn Người lìa khỏi xác Người (dầu không khỏi thần tính Người).
Sự kiện chúng ta không cử hành Thánh thể hôm nay, không làm suy giảm nhưng đúng hơn tăng cường mối giây ràng buộc giữa ngày thứ sáu Tuần Thánh và Thánh Thể. Thánh thể sánh với sự chết của Chúa Kitô như giọng nói và tiếng nói là những lời đưa qua không gian thấu tai những người nghe.
* * *
Có một thánh thi Latin, cũng quí trọng như kinh Adoro Te Devote đối với sự sùng kính Thánh Thể Công giáo: kinh Ave Verum. Không thể tìm được một cách nào tốt hơn là làm sáng tỏ sự liên kết giữa Thánh Thể và thánh giá. Được viết trong thế kỷ 13 đi kèm theo sự giơ cao Bánh Thánh trong Thánh Lễ, ngày nay kinh đó phục vụ cũng tốt như sư chúng ta chào Chúa Kitô khi nâng cao thánh giá. Chứa đựng không hơn 5 câu kinh ngắn kinh, mà kinh ấy mang đến cho chúng ta thật nhiều ý nghĩa:
Con kính lạy Mình Thánh Đức Chúa Giêsu, xưa bởi lòng Rất Thánh Đức bà Maria trọn đời đồng trinh mà ra, chuộc tội chịu chết trên cây Thánh giá cùng chịu lưỡi đòng đâm cạnh nương long chảy hết máu ra. Con xin ngày sau khi con mong qua đời, xin Chúa hằng nuôi lấy linh hồn con. Chúa khoan thay! Nhân thay! Con Rất Thánh Mẫu Maria.
Câu thứ nhất, "Ave verum corpus natum de Maria Virgine --Con kính lạy Mình Thánh Đức Chúa Giêsu, xưa bởi lòng Rất Thánh Đức Bà Maria trọn đời dồng trinh mà ra" là chìa khóa để hiểu tất cả phần còn lại. Berengarius thành Tours chối bỏ sự hiện diện của Chúa Kitô trong hình bánh là sự thật, và nói đó chỉ là hình bóng. Để phản ứng lại bè rối này, một sự nhấn mạnh mới nổi lên, đồng hoá hoàn toàn Mình Thánh thể và Mình lịch sử của Chúa Kitô. Tất cả những kiểu nói trong phần thứ nhất thánh thi qui chiếu về xác thịt: sự sinh bởi Đức Bà Maria, sự thương khó, sự chết, cạnh nương long bị đâm. Tác giả ngừng tại điểm này; ông không nhắc tới sự sống lại, kẻo điều này làm cho người ta tưởng là một thân xác vinh hiển, thiêng liêng, không đủ "thật".
* * *
Thần học thời đại chúng ta đã phát triển một quan điểm quân bình hơn về sự đồng hoá giữa Mình lịch sử Chúa Kitô sinh bởi Đức Maria và Mình Thánh thể. Khuynh hướng bây giờ là tái khám phá đặc tính bí tích về sự hiện diện của Chúa Kitô, tuy thật và về bản tính, nhưng không phải vật chất. Chân lý cơ bản được khẳng định trong thánh thi vẫn còn nguyên vẹn. Chính Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria, Đấng "Đi tới đâu là thi ân giáng phúc tới đó" (Cv 10: 38), Đấng đã chết trên thánh giá và đã sống lại trong ngày thứ ba, thật sự hiện diện trong thế giới ngày nay, không chỉ một cách mơ hồ và thiêng liêng, hay là, như một số người nói, trong "vấn đề" Người ủng hộ. Thánh thể là phương cách Chúa Giêsu phát minh để mãi mãi là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Sự hiện diện này là một bảo chứng, không những cho Giáo Hội, mà còn cho cả thế giới. Nhưng chúng ta cảm thấy sợ phải sử dụng những từ "Thiên Chúa ở với chúng ta," bởi vì những từ đó được sử dụng trước kia trong một nghĩa duy nhất: Thiên Chúa là đấng ở "với chúng ta," về phía chúng ta, nghĩa là không phải với những kẻ khác, và còn "nghịch" với những kẻ thù chúng ta. Nhưng từ khi Chúa Kitô đến, không còn bất cứ sự độc quyền nào nữa, tất cả đều trở nên phổ quát. "Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa" (2 Cor.5:19). Toàn thể thế gian, chớ không phải là một phần thế gian; nhân loại như một toàn thể, chớ không chỉ là một dân tộc.
"Thiên Chúa ở về phía chúng ta," nghĩa là, ở về phía nhân loại, người bạn và kẻ đồng minh của chúng ta chống lại những quyền lực sự dữ. Chỉ một mình Chúa nhân cách hóa nước sự lành chống lại nước sự dữ. Chúng ta cần minh chứng cho niềm hy vọng này có trong chúng ta, bằng cách nổi dậy chống ngọn gió u ám bi quan đang thổi qua xã hội chúng ta. Như Đức Giáo hoàng viết trong "Novo Millennio Ineunte," " Chúng ta không biết điều gì ngàn năm mới dự trữ cho chúng ta, nhưng chúng ta chắc rằng ở trong tay Đức Kitô, 'Vua các Vua và Chúa các Chúa' thì được an toàn (Kh 19: 16)" (Gioan Phaolo II, "Novo Millennio Ineunte, " 35).
* * *
Sau câu chào khởi đầu tiếp theo một lời cầu xin trong thánh thi: "Esto nobis praegustatum mortis in examine" --Con xin ngày sau khi con mong qua đời, xin Chúa hằng nuôi dưỡng lấy linh hồn con. Từ lâu thánh tử đạo Ignatius thành Antioch gọi Thánh Thể là "thuốc bất tử," nghĩa là thuốc chữa bịnh chết cho chúng ta (St.Ignatius of Antioch, lá thư gửi cho tính hữu Ephêsô, 20,2). "Chúng ta sẽ sống lại, thánh Cyril thành Alexandria nói, bởi vì Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã giấu trong chúng ta qua xác thịt Người, và đã lồng vào đó sự sống như hột giống sự bất tử giải thoát chúng ta khỏi mọi sự hư nát đang ở trong chúng ta bây giờ" (St. Cyril of Alexandria, về Phúc Âm thánh Gioan, IV, 2-PG 73, 58 1). Trong Thánh Thể chúng ta có "bảo chứng sự vinh hiển mai sau" : "futurae gloriae nobis pignus datur."
Một số thăm dò dư luận tôn giáo đã mặc khải một sự kiện lạ lùng: Có, cả giữa những người tin, một số người tin có Thiên Chúa nhưng không tin con người có sự sống sau khi chết.. Nhưng làm sao người ta có thể nghĩ ra một điều như vậy? Thơ Do thái nói Chúa Kitô đã chết để lãnh "ơn cứu chuộc vỉnh viễn" cho chúng ta (Dt 9:12). Sự cứu chuộc không những tạm thời, nhưng đời đời.
Thắc mắc: Nhưng không ai đã trở về từ bên kia để bảo đảm chúng ta là sự đó có thật chớ không chỉ là ảo tưởng. Điều ấy không thật. Có người trở về từ bên kia sự chết mỗi ngày để cho chúng ta sự chắc chắn đó và lập lại lời hứa của ngài, nếu chúng ta chỉ biết nghe ngài. Chúng ta đang trên con đường tìm kẻ đến gặp chúng ta mỗi ngày trong Thánh Thể để cho chúng ta một sự nếm trước ("praegustatum!") bữa tiệc đời đời của vương quốc.
Chúng ta cần phải la lên niềm hy vọng này của chúng ta để giúp chúng ta và những người khác vượt thắng sự ghê tởm sự chết và tâm trạng bi quan ảm đạm chung trong xã hội chúng ta. Rất nhiều lý do được nêu lên diễn tả tình trạng tuyệt vọng của thế giới: "một tổ kiến đùn đang tan vỡ," "một hành tinh trong cảnh túng cực." Những nhà khoa học tìm kiếm trong chi tiết sâu rộng hơn kịch bản khả thi của sự tan vỡ vũ trụ. Địa cầu và những hành tinh khác sẽ hoá già, mặt trời và các ngôi sao sẽ ra nguội, mọi sự sẽ hóa lạnh. Ánh sáng sẽ nhạt, càng ngày càng có những hố đen, cho tới khi vũ trụ sẽ đầy những hố đen khổng lồ trôi dạt xa hơn nữa và tách riêng xa hơn nữa... cho đến khi cuối cùng sự bành trướng chấm dứt, sự co rút bắt đầu, và tất cả khối và tất cả năng lực sụp đỗ thành môt khối dày đặc vô cùng. Tất cả khối sẽ chấm dứt trong một sự nổ lớn, "tiếng chuyển động cả thể," và tất cả sẽ trở về sự trống rỗng, sư thinh lăng đã đi trước tiếng va chạm to lớn cách đây 50 nghìn tỷ năm.
Không ai biết những sự việc sẽ thật sự đi con đường này hay đi con đường khác, nhưng đức tin bảo đảm chúng ta rằng, bất cứ sự gì xảy ra, không phải là sự cùng tận hoàn toàn và cuối cùng. Thiên Chúa đã không hoà giải thế giới với chính mình rồi bỏ nó cho sự hư vô, Người đã không hứa ở lại với chúng ta cho tới tận thế rồi đi, một mình, về trời của người khi tận thế đến: "ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở," Thiên Chúa nói trong Kinh Thánh ( Jerem. 31:3), và những lời hứa của Chúa "tình yêu muôn thuở" không phải như những lời hứa của chúng ta.
Bằng cách lấy cùng một giòng tư tưởng như Ave Verum, tác giả kinh Dies Irae--Thương Ôi! Đến ngày Chúa nổi cơn thịnh nộ--khơi lên một tiếng kêu thống khổ với Chúa Kitô, tiếng kêu mà ngày nay một cách đặc biệt chúng ta có thể coi như của chúng ta :"Recordare, Jesu pie, quod sum causa tuae viae: ne me perdas illa die": Lạy Đức Giêsu chí đại, Chúa lòng lành xin nhớ đến con, Bởi vì con Chúa mới ra đời, Xin đừng hủy hoại con ngày ấy. "Quaerens me sedisti lassus, redemisti crucem passus: tantus labor non sit cassus": Chúa mỏi mệt bởi đi tìm con dại, Chúa chịu Thánh giá khổ hình mà chuộc tội, Rất trọng công linh, xin đừng uổng phí.
* * *
Kinh Ave Verum kết thức với một tiếng kêu lên Chúa Kitô: "Ôi lạy Chúa Giêsu dịu hiền, ôi lạy Cháu Giêsu lòng lành," Những lời này nhắc cho chúng ta một hình ảnh dịu hiền, hoàn toàn là hình ảnh tin mừng của Chúa Kitô: Chúa Giêsu " dịu dàng và hòa nhã," đầy lòng thương xót và đồng cảm, đấng không bẻ cây sậy đã giập hay là dập tắt ngọn đèn sắp tàn. Chúa Giêsu đấng đã nói một hôm, "hãy học cùng Thầy, vì thầy hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mat. 11: 29).
Thánh Thể làm cho hiện diện trong thế giới đấng mà, qua huấn giáo và cuộc đời của Người, đã lột mặt nạ và bẻ gãy luôn mãi hệ thống coi bạo tàn là một cái gì thánh thiêng.
Thánh Thể là bí tích của sự bất bạo động! Nhờ Thánh Thể, tiếng "không" tuyệt đối của Chúa đối với bạo tàn, được nói trên thánh giá, vang dội cách sinh động qua bao thế kỷ. Và, đồng thời, đó là chính tiếng "vâng" của Chúa nói với những nạn nhân vô tội, và đó là chính nơi tất cả máu đổ ra trên mặt đất, hoà với máu Chúa Kitô và kêu lên tới Chúa và "kêu thấu trời còn mạnh hơn máu của Abel" ( Dt 12:24).
Nhưng sự hiền lành của Chúa Kitô không phải là sự biện giải cho bạo động xúc phạm đến bản thân Người ngày nay, và trên thực tế sự hiền hậu của Chúa Kitô biến bạo động mà nó kỳ quặc hơn và đáng ghét hơn. Có lời nói rằng Chúa Kitô, nhờ hy lễ của Người, đã chấm dứt sự cậy dựa xấu xa vào người giơ đầu chịu báng, bằng cách gánh lất cả hậu quả của nó (xem R. Girard, "Những sự ẩn giấu từ tạo thiên lập địa," Grasset, Paris 1978). Đau buồn mà nói, Chúa Kitô lại một lần nữa bị khuất phục cũng một số mệnh này.
Tất cả sự oán giận dồn nén trong một đường hướng tư tưởng lâu đời liên hệ với sư liên kết giữa bạo tàn và sự thánh thiêng, thì được bung ra chống lại Người. Như thường lệ, khi cần một người giơ đầu chịu báng, tất cả sự giận dữ của sự tấn công được đổ xuống một người xem ra yếu kém nhất. "Yếu kém nhất," ở đây, theo nghĩa người đó có thể bị khinh bỉ, bị nhạo báng vô tội vạ, không sợ trả đũa; những Kitô hữu từ lâu nay đã từ bỏ tất cả quyền sử dụng bạo lực để bảo vệ những niềm tin của mình.
Sự này không hẳn là một vấn đề ép buộc phải tháo gỡ thánh giá khỏi những nơi công cộng và máng cỏ khỏi văn hoá dân gian Giáng Sinh. Trong một giòng liên tục những phim tiểu thuyết và những vở kịch, các văn sĩ thao túng gương mặt Chúa Kitô dưới chiêu bài những văn kiện và những khám phá tưởng tương và không hiện hữu. Điều này đang trở thành một mốt, môt kiểu văn chương.
Luôn luôn có khuynh hướng mặc cho Chúa Kitô quần áo của thời đại mình hay của ý thức hệ của chính mình. Trong quá khứ có những quan tâm ít ra nghiêm chỉnh, thật nhân loại (Chúa Giêsu là nhà lý tưởng, Chúa Giêsu là nhà xã hội học, là nhà cách mạng...) Thời đại chúng ta,, vì bị ám ảnh bởi tình dục, xem ra không có khả năng vẻ hình Chúa Giêsu một cách nào khác hơn là một người đồng tính luyến ái, hay là một người dạy phải tìm sự cứu độ trong sự kết hợp với nguyên lý phụ nữ và đã làm gương bằng cách cưới bà Maria Madalena. Sự thương khó và sự đóng đinh Chúa Giêsu? Tất cả đều là những bày đặt của Giáo Hội sau này!
Đó là sự kinh doanh trên dội âm rộng rải của tên Chúa Kitô và trên tất cả những gì Người muốn truyền đạt cho phần lớn nhân loại, để hoàn tất sự thông tin rộng rải với giá rẽ mạt hay là gây ra nổi bàng hoàng với những quảng cáo biết khai thác những biểu trưng vả hình ảnh Tin Mừng, như việc quảng cáo về Bữa Tiệc Ly. Điều này là chủ nghĩa ăn bám văn chương!
Nhưng nếu trong vài trường hợp quá khích càc tín hữu phản ứng và gọi điện thoại phản đối những sự này, thì một số người cho là chướng tai gai mắt và chỉ trích điều đó như là sư bất khoan dung và kiểm duyệt. Sự bất bao dung đã đổi hướng trong thời đại chúng ta, ít ra tại phương Tây: nơi nào chúng ta quen có sự bất bao dung sùng đạo, thì bây giờ chúng ta có sự bất bao dung về tôn giáo!
Có những người tự giới thiệu mình như những nhà vô địch khoa học chống lại tôn giáo: một yêu sách gây kinh ngạc, nếu xem xét cách họ xử lý khoa học lịch sử! Nhiều người uống trong những tưởng tượng của họ và những truyện hoàn toàn phi lý, tưởng tượng chúng là thật, và cả chân lý duy nhất bây giờ sau cùng được khỏi sự kiểm soát và cấm đoán của Giáo Hội. Có người đã nói, "Khi một người không còn tin Thiên Chúa nữa, thì họ sẵng sàng tin bất cứ thứ gì." Những sự kiện chứng tỏ ngưới ấy có lý.
Mầu nhiệm chúng ta cử hành hôm nay ngăn ngừa chúng ta khỏi buông theo một sự bắt bớ phức tạp và khơi dựng lên một lần nữa những bức tường hay những pháo đài giữa chúng ta và xã hội ngày nay. Có lẽ chúng ta chỉ nên bắt chước Thầy chúng ta và nói, "Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc đang làm. " Xin tha thứ cho họ và tha thứ chúng con, bởi vì chắc chắn chính tội lỗi chúng con, qúa khứ và hiện tại, cũng đáng bị quở trách khi tên Chúa Kitô bị khinh bỉ giữa các nước..
Có lẽ chúng ta phải kêu gọi những người thời đại chúng ta, không những vì chúng ta nhưng cũng vì họ, và nói điều ông Tertulloan đã nói với những kẻ đa nghi thời đại ông, những kẻ từ chối nhân tính Chúa Kitô: "parce unicae spei totius orbis" :Xin đưng phá hủy niềm tin duy nhất của thế giới (Tertulian, "De carne Christi, " 5, 3-CCL,2,tr.881.
* * *
Hàng cuối kinh Ave Verum nhắc cho chúng ta hình ảnh người Mẹ: "Ôi lạy Chúa Giêsu, con Đức Maria," Đức Trinh Nữ được nhắc tới hai lần trong thánh thi vắn tắt này: lúc đầu, và lúc cuối. Những lời thán từ khác kết thúc thánh thi: "Ôi Giêsu dịu hiền, ôi Giêsu có lòng lành, tất cả nhắc nhớ những lời kết trong kinh Salve Regina-Lạy Vương : "O Clemens, o pia, o dulcis virgo Maria": ôi Khoan thay! Nhân thay dịu thay Thánh Maria trọn đơi đồng trinh.
Không chỉ để trả lời cho một nhu cầu đạo đức, nhưng cũng cho một nhu cầu thần học, nếu có sự nhấn mạnh trên mối liên kết giữa Đức Maria và Thánh Thể. Sự sinh ra của Chúa Giêsu từ Đức Maria, được sử dụng như luận chứng chính chống lại những người Docetists (người theo Ảo -thân thuyết) chối bỏ thực tại của thân xác Chúa Kitô, (sự sinh ra đó) bây giờ là bằng chứng cho sự thât và thực tại của Mình Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể.
Đức Gioan Phaolô II kết thúc tông thư của ngài "Mane Nobiscum Domine," bằng cách qui chiếu về những lời của chính thánh thi này: "Bánh chúng ta nhận lãnh là thịt vô tì vết của Con Mẹ: 'Con kính lạy Mình Thánh Đức Chúa Giêsu xưa bởi lòng Rất Thánh Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh mà ra.' Trong năm ân sủng này, được Đức Mria hỗ trợ, xin cho Giáo Hội có thể khám phá sự nhiệt tình mới cho sứ vụ mình và đi tới chỗ hiểu biết đầy đủ hơn nữa Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể sự sống" (Mane nobiscum Domine, 31).
Dấu chỉ rõ nhất sự hiệp nhất giữa Thánh thể và mầu nhiệm thánh giá, giữa năm Thánh Thể và ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, là bây giờ chúng ta có thể sử dụng những lời kinh Ave Verum, mà không thay đổi một vần nào, để chào Chúa Kitô Đấng, lát nữa đây sẽ được đưa lên thánh giá trước mặt tất cả chúng ta. Và như vậy, tôi khiêm tốn mời tất cả những người có mặt ở đây là những người biết văn bản thánh thi latinh này, hiệp với tôi trong sự loan truyền, với niềm biết ơn sâu xa và nhân danh tất cả moi người được Chúa Kitô cúu chuộc:
Con kính lạy Mình Thánh Đức Chúa Giêsu xưa bởi lòng Rất Thánh Đức Ba Maria trọn đời đồng trinh mà ra, chuộc tội chịu chết trên cây Thánh giá, cùng chịu lưỡi đòng đâm cạnh nương long chảy hết máu ra. Con xin ngày sau, khi con mong qua đời, xin Chúa hằng nuôi lấy linh hồn con. Chúa khoan thay! Nhân thay! Con Rất Thánh Mẫu Bà Maria!
****
Thân xác thật, Thật sự được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria
Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2005, năm Thánh Thể! Ánh sáng nào được chiếu trên hai mầu nhiệm này khi chúng ta nghĩ tới cả hai một lượt! Và một câu hỏi được khơi lên. Nếu Thánh Thể là "sự kỷ niệm cuộc Thương Khó," tại sao Giáo Hội không cử hành Thánh Thể vào chính ngày thứ sáu Tuẩn Thánh? ( Bởi vì bây giờ chúng ta tập hợp để tham dự, không phải một Thánh Lễ, nhưng đúng hơn cử hành phụng vụ tưởng niệm cuộc Thương Khó trong đó chúng ta sẽ rước Mình Chúa Kitô được truyền phép hôm qua.)Có một lý do thần học sâu xa cho việc này. Đấng hiện diện trên bàn thờ trong tất cả Thánh Thể là Chúa Kitô, không chết nhưng sống lại và sống động. Và như vậy Giáo Hội không củ hành Thánh Thể trong hai ngày này khi chúng ta nhớ Chúa Giêsu nằm chết trong mồ, linh hồn Người lìa khỏi xác Người (dầu không khỏi thần tính Người).
Sự kiện chúng ta không cử hành Thánh thể hôm nay, không làm suy giảm nhưng đúng hơn tăng cường mối giây ràng buộc giữa ngày thứ sáu Tuần Thánh và Thánh Thể. Thánh thể sánh với sự chết của Chúa Kitô như giọng nói và tiếng nói là những lời đưa qua không gian thấu tai những người nghe.
* * *
Có một thánh thi Latin, cũng quí trọng như kinh Adoro Te Devote đối với sự sùng kính Thánh Thể Công giáo: kinh Ave Verum. Không thể tìm được một cách nào tốt hơn là làm sáng tỏ sự liên kết giữa Thánh Thể và thánh giá. Được viết trong thế kỷ 13 đi kèm theo sự giơ cao Bánh Thánh trong Thánh Lễ, ngày nay kinh đó phục vụ cũng tốt như sư chúng ta chào Chúa Kitô khi nâng cao thánh giá. Chứa đựng không hơn 5 câu kinh ngắn kinh, mà kinh ấy mang đến cho chúng ta thật nhiều ý nghĩa:
Con kính lạy Mình Thánh Đức Chúa Giêsu, xưa bởi lòng Rất Thánh Đức bà Maria trọn đời đồng trinh mà ra, chuộc tội chịu chết trên cây Thánh giá cùng chịu lưỡi đòng đâm cạnh nương long chảy hết máu ra. Con xin ngày sau khi con mong qua đời, xin Chúa hằng nuôi lấy linh hồn con. Chúa khoan thay! Nhân thay! Con Rất Thánh Mẫu Maria.
Câu thứ nhất, "Ave verum corpus natum de Maria Virgine --Con kính lạy Mình Thánh Đức Chúa Giêsu, xưa bởi lòng Rất Thánh Đức Bà Maria trọn đời dồng trinh mà ra" là chìa khóa để hiểu tất cả phần còn lại. Berengarius thành Tours chối bỏ sự hiện diện của Chúa Kitô trong hình bánh là sự thật, và nói đó chỉ là hình bóng. Để phản ứng lại bè rối này, một sự nhấn mạnh mới nổi lên, đồng hoá hoàn toàn Mình Thánh thể và Mình lịch sử của Chúa Kitô. Tất cả những kiểu nói trong phần thứ nhất thánh thi qui chiếu về xác thịt: sự sinh bởi Đức Bà Maria, sự thương khó, sự chết, cạnh nương long bị đâm. Tác giả ngừng tại điểm này; ông không nhắc tới sự sống lại, kẻo điều này làm cho người ta tưởng là một thân xác vinh hiển, thiêng liêng, không đủ "thật".
* * *
Thần học thời đại chúng ta đã phát triển một quan điểm quân bình hơn về sự đồng hoá giữa Mình lịch sử Chúa Kitô sinh bởi Đức Maria và Mình Thánh thể. Khuynh hướng bây giờ là tái khám phá đặc tính bí tích về sự hiện diện của Chúa Kitô, tuy thật và về bản tính, nhưng không phải vật chất. Chân lý cơ bản được khẳng định trong thánh thi vẫn còn nguyên vẹn. Chính Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria, Đấng "Đi tới đâu là thi ân giáng phúc tới đó" (Cv 10: 38), Đấng đã chết trên thánh giá và đã sống lại trong ngày thứ ba, thật sự hiện diện trong thế giới ngày nay, không chỉ một cách mơ hồ và thiêng liêng, hay là, như một số người nói, trong "vấn đề" Người ủng hộ. Thánh thể là phương cách Chúa Giêsu phát minh để mãi mãi là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Sự hiện diện này là một bảo chứng, không những cho Giáo Hội, mà còn cho cả thế giới. Nhưng chúng ta cảm thấy sợ phải sử dụng những từ "Thiên Chúa ở với chúng ta," bởi vì những từ đó được sử dụng trước kia trong một nghĩa duy nhất: Thiên Chúa là đấng ở "với chúng ta," về phía chúng ta, nghĩa là không phải với những kẻ khác, và còn "nghịch" với những kẻ thù chúng ta. Nhưng từ khi Chúa Kitô đến, không còn bất cứ sự độc quyền nào nữa, tất cả đều trở nên phổ quát. "Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa" (2 Cor.5:19). Toàn thể thế gian, chớ không phải là một phần thế gian; nhân loại như một toàn thể, chớ không chỉ là một dân tộc.
"Thiên Chúa ở về phía chúng ta," nghĩa là, ở về phía nhân loại, người bạn và kẻ đồng minh của chúng ta chống lại những quyền lực sự dữ. Chỉ một mình Chúa nhân cách hóa nước sự lành chống lại nước sự dữ. Chúng ta cần minh chứng cho niềm hy vọng này có trong chúng ta, bằng cách nổi dậy chống ngọn gió u ám bi quan đang thổi qua xã hội chúng ta. Như Đức Giáo hoàng viết trong "Novo Millennio Ineunte," " Chúng ta không biết điều gì ngàn năm mới dự trữ cho chúng ta, nhưng chúng ta chắc rằng ở trong tay Đức Kitô, 'Vua các Vua và Chúa các Chúa' thì được an toàn (Kh 19: 16)" (Gioan Phaolo II, "Novo Millennio Ineunte, " 35).
* * *
Sau câu chào khởi đầu tiếp theo một lời cầu xin trong thánh thi: "Esto nobis praegustatum mortis in examine" --Con xin ngày sau khi con mong qua đời, xin Chúa hằng nuôi dưỡng lấy linh hồn con. Từ lâu thánh tử đạo Ignatius thành Antioch gọi Thánh Thể là "thuốc bất tử," nghĩa là thuốc chữa bịnh chết cho chúng ta (St.Ignatius of Antioch, lá thư gửi cho tính hữu Ephêsô, 20,2). "Chúng ta sẽ sống lại, thánh Cyril thành Alexandria nói, bởi vì Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã giấu trong chúng ta qua xác thịt Người, và đã lồng vào đó sự sống như hột giống sự bất tử giải thoát chúng ta khỏi mọi sự hư nát đang ở trong chúng ta bây giờ" (St. Cyril of Alexandria, về Phúc Âm thánh Gioan, IV, 2-PG 73, 58 1). Trong Thánh Thể chúng ta có "bảo chứng sự vinh hiển mai sau" : "futurae gloriae nobis pignus datur."
Một số thăm dò dư luận tôn giáo đã mặc khải một sự kiện lạ lùng: Có, cả giữa những người tin, một số người tin có Thiên Chúa nhưng không tin con người có sự sống sau khi chết.. Nhưng làm sao người ta có thể nghĩ ra một điều như vậy? Thơ Do thái nói Chúa Kitô đã chết để lãnh "ơn cứu chuộc vỉnh viễn" cho chúng ta (Dt 9:12). Sự cứu chuộc không những tạm thời, nhưng đời đời.
Thắc mắc: Nhưng không ai đã trở về từ bên kia để bảo đảm chúng ta là sự đó có thật chớ không chỉ là ảo tưởng. Điều ấy không thật. Có người trở về từ bên kia sự chết mỗi ngày để cho chúng ta sự chắc chắn đó và lập lại lời hứa của ngài, nếu chúng ta chỉ biết nghe ngài. Chúng ta đang trên con đường tìm kẻ đến gặp chúng ta mỗi ngày trong Thánh Thể để cho chúng ta một sự nếm trước ("praegustatum!") bữa tiệc đời đời của vương quốc.
Chúng ta cần phải la lên niềm hy vọng này của chúng ta để giúp chúng ta và những người khác vượt thắng sự ghê tởm sự chết và tâm trạng bi quan ảm đạm chung trong xã hội chúng ta. Rất nhiều lý do được nêu lên diễn tả tình trạng tuyệt vọng của thế giới: "một tổ kiến đùn đang tan vỡ," "một hành tinh trong cảnh túng cực." Những nhà khoa học tìm kiếm trong chi tiết sâu rộng hơn kịch bản khả thi của sự tan vỡ vũ trụ. Địa cầu và những hành tinh khác sẽ hoá già, mặt trời và các ngôi sao sẽ ra nguội, mọi sự sẽ hóa lạnh. Ánh sáng sẽ nhạt, càng ngày càng có những hố đen, cho tới khi vũ trụ sẽ đầy những hố đen khổng lồ trôi dạt xa hơn nữa và tách riêng xa hơn nữa... cho đến khi cuối cùng sự bành trướng chấm dứt, sự co rút bắt đầu, và tất cả khối và tất cả năng lực sụp đỗ thành môt khối dày đặc vô cùng. Tất cả khối sẽ chấm dứt trong một sự nổ lớn, "tiếng chuyển động cả thể," và tất cả sẽ trở về sự trống rỗng, sư thinh lăng đã đi trước tiếng va chạm to lớn cách đây 50 nghìn tỷ năm.
Không ai biết những sự việc sẽ thật sự đi con đường này hay đi con đường khác, nhưng đức tin bảo đảm chúng ta rằng, bất cứ sự gì xảy ra, không phải là sự cùng tận hoàn toàn và cuối cùng. Thiên Chúa đã không hoà giải thế giới với chính mình rồi bỏ nó cho sự hư vô, Người đã không hứa ở lại với chúng ta cho tới tận thế rồi đi, một mình, về trời của người khi tận thế đến: "ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở," Thiên Chúa nói trong Kinh Thánh ( Jerem. 31:3), và những lời hứa của Chúa "tình yêu muôn thuở" không phải như những lời hứa của chúng ta.
Bằng cách lấy cùng một giòng tư tưởng như Ave Verum, tác giả kinh Dies Irae--Thương Ôi! Đến ngày Chúa nổi cơn thịnh nộ--khơi lên một tiếng kêu thống khổ với Chúa Kitô, tiếng kêu mà ngày nay một cách đặc biệt chúng ta có thể coi như của chúng ta :"Recordare, Jesu pie, quod sum causa tuae viae: ne me perdas illa die": Lạy Đức Giêsu chí đại, Chúa lòng lành xin nhớ đến con, Bởi vì con Chúa mới ra đời, Xin đừng hủy hoại con ngày ấy. "Quaerens me sedisti lassus, redemisti crucem passus: tantus labor non sit cassus": Chúa mỏi mệt bởi đi tìm con dại, Chúa chịu Thánh giá khổ hình mà chuộc tội, Rất trọng công linh, xin đừng uổng phí.
* * *
Kinh Ave Verum kết thức với một tiếng kêu lên Chúa Kitô: "Ôi lạy Chúa Giêsu dịu hiền, ôi lạy Cháu Giêsu lòng lành," Những lời này nhắc cho chúng ta một hình ảnh dịu hiền, hoàn toàn là hình ảnh tin mừng của Chúa Kitô: Chúa Giêsu " dịu dàng và hòa nhã," đầy lòng thương xót và đồng cảm, đấng không bẻ cây sậy đã giập hay là dập tắt ngọn đèn sắp tàn. Chúa Giêsu đấng đã nói một hôm, "hãy học cùng Thầy, vì thầy hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mat. 11: 29).
Thánh Thể làm cho hiện diện trong thế giới đấng mà, qua huấn giáo và cuộc đời của Người, đã lột mặt nạ và bẻ gãy luôn mãi hệ thống coi bạo tàn là một cái gì thánh thiêng.
Thánh Thể là bí tích của sự bất bạo động! Nhờ Thánh Thể, tiếng "không" tuyệt đối của Chúa đối với bạo tàn, được nói trên thánh giá, vang dội cách sinh động qua bao thế kỷ. Và, đồng thời, đó là chính tiếng "vâng" của Chúa nói với những nạn nhân vô tội, và đó là chính nơi tất cả máu đổ ra trên mặt đất, hoà với máu Chúa Kitô và kêu lên tới Chúa và "kêu thấu trời còn mạnh hơn máu của Abel" ( Dt 12:24).
Nhưng sự hiền lành của Chúa Kitô không phải là sự biện giải cho bạo động xúc phạm đến bản thân Người ngày nay, và trên thực tế sự hiền hậu của Chúa Kitô biến bạo động mà nó kỳ quặc hơn và đáng ghét hơn. Có lời nói rằng Chúa Kitô, nhờ hy lễ của Người, đã chấm dứt sự cậy dựa xấu xa vào người giơ đầu chịu báng, bằng cách gánh lất cả hậu quả của nó (xem R. Girard, "Những sự ẩn giấu từ tạo thiên lập địa," Grasset, Paris 1978). Đau buồn mà nói, Chúa Kitô lại một lần nữa bị khuất phục cũng một số mệnh này.
Tất cả sự oán giận dồn nén trong một đường hướng tư tưởng lâu đời liên hệ với sư liên kết giữa bạo tàn và sự thánh thiêng, thì được bung ra chống lại Người. Như thường lệ, khi cần một người giơ đầu chịu báng, tất cả sự giận dữ của sự tấn công được đổ xuống một người xem ra yếu kém nhất. "Yếu kém nhất," ở đây, theo nghĩa người đó có thể bị khinh bỉ, bị nhạo báng vô tội vạ, không sợ trả đũa; những Kitô hữu từ lâu nay đã từ bỏ tất cả quyền sử dụng bạo lực để bảo vệ những niềm tin của mình.
Sự này không hẳn là một vấn đề ép buộc phải tháo gỡ thánh giá khỏi những nơi công cộng và máng cỏ khỏi văn hoá dân gian Giáng Sinh. Trong một giòng liên tục những phim tiểu thuyết và những vở kịch, các văn sĩ thao túng gương mặt Chúa Kitô dưới chiêu bài những văn kiện và những khám phá tưởng tương và không hiện hữu. Điều này đang trở thành một mốt, môt kiểu văn chương.
Luôn luôn có khuynh hướng mặc cho Chúa Kitô quần áo của thời đại mình hay của ý thức hệ của chính mình. Trong quá khứ có những quan tâm ít ra nghiêm chỉnh, thật nhân loại (Chúa Giêsu là nhà lý tưởng, Chúa Giêsu là nhà xã hội học, là nhà cách mạng...) Thời đại chúng ta,, vì bị ám ảnh bởi tình dục, xem ra không có khả năng vẻ hình Chúa Giêsu một cách nào khác hơn là một người đồng tính luyến ái, hay là một người dạy phải tìm sự cứu độ trong sự kết hợp với nguyên lý phụ nữ và đã làm gương bằng cách cưới bà Maria Madalena. Sự thương khó và sự đóng đinh Chúa Giêsu? Tất cả đều là những bày đặt của Giáo Hội sau này!
Đó là sự kinh doanh trên dội âm rộng rải của tên Chúa Kitô và trên tất cả những gì Người muốn truyền đạt cho phần lớn nhân loại, để hoàn tất sự thông tin rộng rải với giá rẽ mạt hay là gây ra nổi bàng hoàng với những quảng cáo biết khai thác những biểu trưng vả hình ảnh Tin Mừng, như việc quảng cáo về Bữa Tiệc Ly. Điều này là chủ nghĩa ăn bám văn chương!
Nhưng nếu trong vài trường hợp quá khích càc tín hữu phản ứng và gọi điện thoại phản đối những sự này, thì một số người cho là chướng tai gai mắt và chỉ trích điều đó như là sư bất khoan dung và kiểm duyệt. Sự bất bao dung đã đổi hướng trong thời đại chúng ta, ít ra tại phương Tây: nơi nào chúng ta quen có sự bất bao dung sùng đạo, thì bây giờ chúng ta có sự bất bao dung về tôn giáo!
Có những người tự giới thiệu mình như những nhà vô địch khoa học chống lại tôn giáo: một yêu sách gây kinh ngạc, nếu xem xét cách họ xử lý khoa học lịch sử! Nhiều người uống trong những tưởng tượng của họ và những truyện hoàn toàn phi lý, tưởng tượng chúng là thật, và cả chân lý duy nhất bây giờ sau cùng được khỏi sự kiểm soát và cấm đoán của Giáo Hội. Có người đã nói, "Khi một người không còn tin Thiên Chúa nữa, thì họ sẵng sàng tin bất cứ thứ gì." Những sự kiện chứng tỏ ngưới ấy có lý.
Mầu nhiệm chúng ta cử hành hôm nay ngăn ngừa chúng ta khỏi buông theo một sự bắt bớ phức tạp và khơi dựng lên một lần nữa những bức tường hay những pháo đài giữa chúng ta và xã hội ngày nay. Có lẽ chúng ta chỉ nên bắt chước Thầy chúng ta và nói, "Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc đang làm. " Xin tha thứ cho họ và tha thứ chúng con, bởi vì chắc chắn chính tội lỗi chúng con, qúa khứ và hiện tại, cũng đáng bị quở trách khi tên Chúa Kitô bị khinh bỉ giữa các nước..
Có lẽ chúng ta phải kêu gọi những người thời đại chúng ta, không những vì chúng ta nhưng cũng vì họ, và nói điều ông Tertulloan đã nói với những kẻ đa nghi thời đại ông, những kẻ từ chối nhân tính Chúa Kitô: "parce unicae spei totius orbis" :Xin đưng phá hủy niềm tin duy nhất của thế giới (Tertulian, "De carne Christi, " 5, 3-CCL,2,tr.881.
* * *
Hàng cuối kinh Ave Verum nhắc cho chúng ta hình ảnh người Mẹ: "Ôi lạy Chúa Giêsu, con Đức Maria," Đức Trinh Nữ được nhắc tới hai lần trong thánh thi vắn tắt này: lúc đầu, và lúc cuối. Những lời thán từ khác kết thúc thánh thi: "Ôi Giêsu dịu hiền, ôi Giêsu có lòng lành, tất cả nhắc nhớ những lời kết trong kinh Salve Regina-Lạy Vương : "O Clemens, o pia, o dulcis virgo Maria": ôi Khoan thay! Nhân thay dịu thay Thánh Maria trọn đơi đồng trinh.
Không chỉ để trả lời cho một nhu cầu đạo đức, nhưng cũng cho một nhu cầu thần học, nếu có sự nhấn mạnh trên mối liên kết giữa Đức Maria và Thánh Thể. Sự sinh ra của Chúa Giêsu từ Đức Maria, được sử dụng như luận chứng chính chống lại những người Docetists (người theo Ảo -thân thuyết) chối bỏ thực tại của thân xác Chúa Kitô, (sự sinh ra đó) bây giờ là bằng chứng cho sự thât và thực tại của Mình Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể.
Đức Gioan Phaolô II kết thúc tông thư của ngài "Mane Nobiscum Domine," bằng cách qui chiếu về những lời của chính thánh thi này: "Bánh chúng ta nhận lãnh là thịt vô tì vết của Con Mẹ: 'Con kính lạy Mình Thánh Đức Chúa Giêsu xưa bởi lòng Rất Thánh Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh mà ra.' Trong năm ân sủng này, được Đức Mria hỗ trợ, xin cho Giáo Hội có thể khám phá sự nhiệt tình mới cho sứ vụ mình và đi tới chỗ hiểu biết đầy đủ hơn nữa Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể sự sống" (Mane nobiscum Domine, 31).
Dấu chỉ rõ nhất sự hiệp nhất giữa Thánh thể và mầu nhiệm thánh giá, giữa năm Thánh Thể và ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, là bây giờ chúng ta có thể sử dụng những lời kinh Ave Verum, mà không thay đổi một vần nào, để chào Chúa Kitô Đấng, lát nữa đây sẽ được đưa lên thánh giá trước mặt tất cả chúng ta. Và như vậy, tôi khiêm tốn mời tất cả những người có mặt ở đây là những người biết văn bản thánh thi latinh này, hiệp với tôi trong sự loan truyền, với niềm biết ơn sâu xa và nhân danh tất cả moi người được Chúa Kitô cúu chuộc:
Con kính lạy Mình Thánh Đức Chúa Giêsu xưa bởi lòng Rất Thánh Đức Ba Maria trọn đời đồng trinh mà ra, chuộc tội chịu chết trên cây Thánh giá, cùng chịu lưỡi đòng đâm cạnh nương long chảy hết máu ra. Con xin ngày sau, khi con mong qua đời, xin Chúa hằng nuôi lấy linh hồn con. Chúa khoan thay! Nhân thay! Con Rất Thánh Mẫu Bà Maria!