Mặc dù sống ở Âu-châu, và đã đi qua bao nhiêu chiếc cầu ở Pháp, ở Anh, ở Thụy-sĩ và Đan-Mạch...làm sao tôi quên được chiếc cầu tre cho phép tôi băng qua sông, đi về thăm ngoại, tại Quê Nhà việt Nam ?

Làng tôi ở Triệu Phong, thuộc miền duyên hải Quảng Trị. Trước 10 tuổi, tôi không bao giờ rời bỏ những đồng lúa xanh...những đồi cát trắng trùng trùng, điệp điệp. Thế mà đi về thăm ngoại một đôi lần trong năm, đó là những lúc tôi thấy mình dấn bước "vào cõi bồng lai thiên phước...".

Tôi lóc chóc chạy theo Mẹ... Mẹ quảy gánh đem về cho ngoại "cây nhà lá vườn". Chạy hết hơi, thế mà lòng tôi sung sướng hạnh phúc. Đi theo ai khác, tôi lại băn khoăn lo âu "vì chiếc cầu tre lắc lẻo"... Hình ảnh "nước trôi cuồn cuộn" ở dưới chân cầu làm tôi rùng mình, chùn chân, không dám bước tới. Tôi cứ sợ rơi tỏm xuống đó, thì phải kết thúc một cuộc đời đầy răm rắp mộng mơ.

Trong đời sống Đức-tin, cũng có một cái chi "mường tượng" như thế. Đi theo Mẹ Maria - cho dù phải chạy lốc chốc hết hơi, thở hổn hển - tôi vẫn sung sướng, an tâm, can trường bước tới.

Hẳn thực, đời sống Đức-tin của tôi được phân chia thành ba vùng rõ rệt. Bên này là quê hương với tất cả mọi ngóc ngách quen thuộc, đến độ nhàm chán, bực bội, nặng nề. Học xong tôi phải ra đồng giữ trâu bò cho Ba cày ruộng. Đôi ba lần trong một tháng, tôi phải đi ngang qua một sa mạc đầy cát trắng nóng bỏng giữa trưa hè... theo gót Ba, đem bò trâu ra tận đồng cỏ gần bờ biển, để Ba cuốc đất trồng khoai, « tăng gia sản xuất ».

Quê hương đối với tôi có nghĩa là chỗ tôi sinh ra, lớn khôn, học tập, thi hành bổn phận. Quê hương "có chim có bướm". Nhưng quê hương cũng có « những ngày trốn học bị đòn roi...". Quê hương, trong lối nhìn của thi sĩ Giang Nam, cũng là những hoài niệm không bao giờ bị xóa nhòa trong cuộc đời, "vì trong từng nắm đất, có một phần xương thịt của Em tôi!".

Quê hương có khuôn mặt :

"Thẹn thùng nép sau cánh cửa...

"Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

"Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)

"Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

"Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...".


Và bên kia, sau những quãng đường...sau những bụi rậm...sau những con sông, tôi biết chắc chắn rằng: đó là quê của Mẹ.

Về đo, tôi được Ông Ngoại và Bà Ngoại cho phép leo lên đầu gối mà ngồi. Tôi được các dì cầm tay dắt đi chơi. Đi theo các cậu ra ao hồ câu cá. Nhưng "cõi bồng lai ấy" không bao giờ kéo dài hơn một tuần lễ. Tôi lại phải trở về với quê hương bổn phận, học hành, đi giữ trâu... Nhưng sau một cuộc đời dài đi đó đi dây, tôi mới cảm thấy rằng không có quê hương, làm sao tôi có đựoc ngày hôm nay?

"Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nỗi thành người
."

Vùng thứ ba, ở giữa Quê Cha và Quê Mẹ là chiếc cầu tre lắc lẻo. Trong thực tế, nó chỉ có chiều dài hai hoặc ba mét tây là cùng. Thế mà hồi ấy đối với tôi, nó dài lê thê, vô tận, hải hùng, khiếp đảm. Trí tưởng tượng của tôi bày vẻ từng đàn con khủng long ở dưới đó. Chúng nó rì rào, cười khúc khích, chờ tôi rơi xuống, là há miệng ra thật to, nuốt vào bụng một cách ngon lành.

Một điều lạ, tôi không bao giờ hiểu được, khi có Mẹ cầm tay dẫn đi qua, mấy con "quỉ sứ" kia đều biến đâu mất. Kỳ lạ hơn nữa, khi nhìn xuống đáy sâu, tôi lại thấy bóng hình Mẹ cùng với tôi tươi cười với nhau trên mặt nước.

***

Đi với Mẹ Maria, "trên những chiếc cầu tre lắc lẻo" thuộc đời sống Đức-tin, tôi cũng an tâm như vậy. Tôi hình dung mình giống như Đức Kitô, từ thứ năm tuần thánh đến hết ngày thứ sáu. Ngài bị đánh đập, tra khảo, đội mũ gai... rồi trên một con đường dài, leo dốc tận đồi Gôn-gô-ta, phải vác Thánh-giá nặng nề... Cuối cùng bị đóng đinh...Đức Kitô đã kinh qua và trải nghiệm cuộc đời làm người với Mẹ Maria. Mẹ luôn luôn có mặt với Ngài, cho nên Ngài đã có khả lực "vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời".

Sau một ngày lam lũ rao giảng Tin-mừng: làm cho người mù được thấy, người bại liệt đứng dậy và đi, người nghèo được chúc phúc, người chết được ra khỏi mồ như La-da-rô... thế mà Đức Kitô vẫn bị người đời gọi là "đồ quỉ ám" và tìm cách sát hại, đưa ra toà... Dưới túp lều ở Na-da-rét, Ngài trở về bên mẹ. Ngài tâm sự với Mẹ. Ngài đọc Kinh Thánh với Mẹ. Ngài dạy cho Mẹ ngôn ngữ của Thiên Chúa. Mẹ dạy lại cho Ngài ngôn ngữ của Loài Người. Nhờ tìm được điểm tựa, hơi ấm bên Mẹ, Ngài lại can trường tiếp tục xông pha lên đường, sáng hôm sau.

Mẹ đã nói gì với Chúa Giêsu, con Mẹ, để nâng đỡ và động viên tinh thần cho Ngài? Chắc hẳn, Mẹ đã trùng tuyên câu nói mà sứ thần Ga-bri-en đã thưa với Mẹ: "Chúa Thánh thần sẽ ngự xuống trên Bà".

Chỗ nào Chúa Thánh Thần có mặt, chỗ ấy sẽ lai láng tràn trề Tình Thương của Thiên Chúa Ngôi Cha. Và nhờ sức mạnh kỳ diẹu của Chúa Thánh Thần, Đức Kitô đã can đảm đi trọn con đường dương thế của Ngài. Theo đúng như kế hoạch mà Ngôi Cha đã cưu mang ấp ủ từ trước muôn đời, Ngài đã “chết trên Thánh Giá và Sống lại ngày thứ ba”, nhằm tái dựng tất cả chúng ta, trên con đường Thứ Tha và Ân Sủng.

Sống Đức Tin vào Đức Kitô là sống cuộc sống của Ngài. Là Sống như Ngài, ngày ngày can trường đi qua "những chiếc cầu tre lắc lẻo". Suốt cuộc đời làm người, Ngài đã chọn Mẹ Maria, để cùng đi với Mẹ.

Chúng ta cũng hãy làm như Ngài. Trò không thể hơn Thầy!

Cùng với Mẹ Maria, chúng ta hãy đi qua "những chiếc cầu tre lắc lẻo", có mặt khắp đó đây, trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta hãy học nhìn như Mẹ, để thấy Trời Xanh. Học nghe lời Chúa như Mẹ, để cưu mang Đại Dương Tình Yêu và Thứ Tha, trong cõi lòng của mình.

"Hãy gọi Biển về, lòng ai thao thức sóng vỗ,

Hãy lắng nghe Trời, khi cuộc đời đầy giông tố.

Con là ai? Hạt bụi giữa Đất-Trời Vũ-trụ,

Nhưng đời con gây động chuyển hàng ngàn tinh tú.

Con đi ra, mở rộng nhiều chân trời Tình Bạn,

Con mang về Đức Kitô “ tròn đầy và viên mãn
".

Lausanne Thụy sĩ

Mùa Phục Sinh 2004