Bài này được viết bởi Bernardo Cervellera, và được đăng trên trang web của hãng Tin Thông Tấn Á Châu (AsiaNews.it) vào ngày 16 tháng 3 vừa qua.
Ngày hôm nay, 20 tháng 3, đánh dấu kỷ niệm lần thứ nhất Cuộc Chiến Thứ Hai ở Vùng Vịnh, chiến dịch quân sự đã dẫn đến sự sụp đổ của Saddam Hussein. Bằng cách cố gắng điểm lại các sự kiện đã xãy ra trong vòng 12 tháng qua, chúng tôi bị tràn ngập bởi một đống hình ảnh, hết tầm hình này đến tấm hình khác: từ những cuộc dội bom cả ngày lẫn đêm, đến sự thiệt mạng của biết bao nhiêu thường dân vô tội, đến lời nói láo của Bộ Trưởng Thông Tin Irắc. Chúng tôi nhớ lại các tấm thẻ bài có hình lâu đài của Lực Lượng Cách Mạng bị thổi bay tung tóe chỉ sau một luồn gió mạnh, trong khi đó bức tượng bằng đồng và sắt của Saddam Hussein, vốn đứng sừng sững giữa lộ thiên, đã bị kéo sập xuống. Rồi là việc lùng bắt bản thân của chính nhà độc tài, và hình ảnh ông ta há miệng ra để cho bác sĩ khám nghiệm. Rồi thì những chuổi tấn công của quân khủng bố vào Phái Đoàn Hội Chữ Thập Đỏ và Liên Hiệp Quốc và quân Ý Đại Lợi tại thành phố Nassiriya.
Chỉ riêng tại Ý này thôi và những phần còn lại của thế giới, người ta vẫn còn bàn luận tới lui là liệu cuộc chiến ở Irắc, có phải là một cuộc chiến “chính nghĩa” hay không. Chính phủ của Ý Đại Lợi hiện vẫn còn phân vân là liệu có nên tài trợ cho quân đội của họ tại Irắc hay không (trong khi những nước khác thì vẫn còn quyết định là liệu có nên gởi quân vào hay không.)
Điều mà thật sự khiến chúng tôi, những nhà truyền giáo làm việc tại Á Châu, phân vân đó là việc chứng kiến những cuộc khẩu chiến, tranh luận qua lại về vấn đề Iraq, không phải vì tình thương của họ dành cho nhân dân khốn cùng của Irắc, mà đơn giản chỉ vì những quyền lợi về chính trị mà thôi, để qua đó dùng nó như là một phương cách để thắng phiếu từ đối phương.
Chúng tôi nhận ra, hiện trạng chung đó cũng đang diễn ra một cách tương tự tại những nước khác trên thế giới, nơi mà những người có tinh thần chống Mỹ thì ít hơn là tất cả các đảng phái, vốn ủng hộ điều mà Tổng Thống Bush, chính phủ Hoa Kỳ và các nhân quân Thủy Quân Lục Chiến đang thi hành.
Bản thân chúng tôi cũng không tán thành chiến tranh, vì chiến tranh sẽ chỉ mang đến một thứ chủ nghĩa hòa bình mù quáng mà thôi. Trong suốt cuộc công kích dữ dội của những cuộc phản đối hòa bình (mà thực chất là diễu hành chống lại Tổng Thống Bush và thể chế của Thủ Tướng Berlusconi tại nước Ý này), chúng tôi lo ngại cho những người dân vô tội Irắc.
Và cho đến ngày hôm nay, cũng vì lý do tương tự (nghĩa là vì hiện tại và tương lai của người dân Irắc), chúng tôi phải thật sự nhìn nhận ra rằng cuộc chiến và Lực Lượng Đồng Minh đã đem lại những điều tốt đẹp cho quê hương xứ sở Irắc. Theo một thống kê được thực hiện bởi Đài BBC ngay tại chính Irắc thì có ít nhất 70% người dân Irắc nghĩ rằng: mọi chuyện đã thay đổi theo một chiều hướng tốt đẹp hơn cho quê hương, xứ sở của họ và có tới 56% công dân Irắc nói rằng đất nước của họ ngày nay tốt đẹp hơn là trước khi xảy ra chiến tranh.
Trong vài tháng vừa qua, Hãng Tin Á Châu, đã xuất bản nhiều bài tham luận viết về sự phục hưng của nền kinh tế tại Irắc, một đất nước mà nhiều năm nay phải chịu sự cấm vận vì một thể chế độc tài. Dẫu rằng, khắp nhiều vùng đô thị trên toàn đất nước Irắc, vẫn còn tồn tại những vấn nạn về nước tiêu dùng và điện. Tuy nhiên, không ai có thể phủ nhận rằng, việc kinh doanh đang bắt đầu phục hưng trở lại trên khắp quê hương Irắc. Nếu điện thoại cố định đôi lúc không hoạt động ở vùng thủ đô Baghdad, thì đó đây người ta vẫn thấy, người dân dùng điện thoại di động. Những cửa tiệm thì tràn ngập các mặt hàng, một điều mà trước đây, đã bị cấm cản hoàn toàn dưới chế độ của Hussein, như các đĩa vệ tinh chẳng hạn. Và thậm chí, cả ngay lương bổng cũng khá hơn rất nhiều. Một giáo chức bây giờ có thể lãnh được 50 đô la một tháng, thay vì chỉ có 3 đô la một tháng trước khi cuộc chiến tranh xảy ra. Các bác sĩ thì bây giờ lãnh được 300 đô la một tháng, thay vì 4 đô la một tháng. Giáo Hội thì cũng được tự do hơn để bày tỏ chính những quan điểm của mình, thậm chí có thể chỉ trích, phản kháng hay đòi hỏi những quyền lợi của Giáo Hội. Việc giáo dục tư thục cũng được khôi phục trở lại: cả về những trường học Kitô giáo lẫn Hồi giáo-đã cho thấy sự kết thúc của một chế độ cai trị nghiêm khắc và độc tài. Hàng tá các tờ báo khác nhau xuất hiện tại Irắc. Họ viết về hầu hết mọi đề tài đang diễn ra trên quê hương mà không phải chịu bất kỳ sự kiểm duyệt nào cả. Người dân Irắc bây giờ, cũng thậm chí, có quyền chỉ trích lại ngay chính những người Mỹ, vì lẽ, giờ đây họ không còn phải lo sợ là sẽ bị tra tấn hay trừng phạt vì chính kiến và tín ngưỡng của họ nữa.
Những cuộc biểu tình, và diễu hành mới đây nhắc nhở cho chúng ta nhớ lại rằng, dưới 20 năm cai trị bằng súng và sắt của Hussein, thì những công dân đó hoàn toàn phải bị câm nín. Bản thảo về hiến pháp lâm thời của quốc gia Irắc vừa mới được ký kết và có hiệu lực. Hiến pháp hội nhập nền dân chủ với tất cả các bộ lạc truyền thống, gây sự hứng khởi cho đạo Hồi (là tôn giáo mà đại đa số người Irắc theo) và sự trần tục hóa giữa các công dân để cùng dẫn đến sự đoàn kết và chế độ liên bang.
Đó là sự kiện mà những người phụ nữ ngày nay và những người Kitô giáo bước vào bàn tranh luận về hiến pháp, để có được sự bảo vệ về quyền lợi và các giá trị của họ. Đó đã là một dấu chỉ cho thấy, cả những quyền lợi của phái nam lẫn phái nữ, đều được tôn trọng như nhau, ngoài những quyền lợi về tôn giáo trong một thế giới Hồi Giáo. Dĩ nhiên là chủ nghĩa khủng bố vẫn còn đầy dẫy, vì thế các binh sĩ và đặc biệt là những công dân bị giết rất nhiều trên các đường phố. Bất cứ ai nghĩ rằng việc dán nhãn “sự kháng cự” đối với những ai chỉ huy những tên khủng bố, nên tỏ bày ý kiến của họ cho Tiến Sĩ Raied Jewad, một học giả tại trường Đại Học Cambridge, đã hồi hương sau hơn 23 năm sống lưu vong, có bà con dòng họ bị giết chết tại một nhà hàng. Qua bản báo cáo, ông nói rằng, “Đó không phải là một sự kháng cự. Nếu gọi đó là một sự kháng cự, thì đó là sự xúc phạm đến người dân Irắc. Làm sao mà quần chúng có thể “kháng cự” sự chiếm đóng của các lực lượng bằng cách cướp đi những mạng sống của chính những người dân của họ và việc cho nổ bom trên các đường phố gần các ngôi đền thờ Hồi Giáo đã giết hết tất cả các nhân viên của Hội Hồng Thập Tự và của Liên Hiệp Quốc? Một hình thức kháng cự thật sự của chính người Irắc sẽ không thể nào được thực hiện qua cách thống thiết và hèn nhát như vậy được.”
Lực lượng đồng minh đã thực hiện được nhiều việc tốt đẹp cho vùng Trung Đông này. Ý tưởng mang lại nền dân chủ cho thế giới Ả Rập đang ngày càng trở nên hứa hẹn và hiện thực hơn bao giờ hết, vì chưng, đây là một vùng duy nhất của thế giới, phải kinh qua rất nhiều sự độc tài của những gia đình, và của những cá nhân đội mũ xưng danh là bảo vệ các giá trị của Hồi Giáo trong khi đó lại thực hiện những hành động tra tấn bắt bớ dã man đối với dân chúng và sự tự do của dân lành.
Ngay tại nước láng giềng Ả Rập Saudi chẳng hạn, hiện giờ có một áp lực rất lớn buộc chính phủ phải thay đổi lề lối hành xử. Thậm chí những phụ nữ Trung Đông giờ đây liên tục đòi phải có sự bảo vệ, và sự bảo đảm về những quyền lợi của họ. Tại Irăn, mặc cho sự chiến thắng của phe bảo thủ trong những cuộc tổng tuyển cử vừa qua, chưa bao giờ dòng dõi Ayatollahs gặp phải một sự thách đố đòi phải cở mở quyền lực như vậy. Hơn nữa, tại Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, đang có cuộc thảo luận bàn về việc trả lại quyền tự do ngôn luận và tự do tôn giáo. Tại nước Syria, 1000 nhà trí thức, uyên bác đòi phải có cải tổ chính trị mà chính bản thân họ không hề bị bắt (đó là một điều hiếm khi xảy ra tại một chế độ độc tài của vua Assad). Và ngay cả cuộc xung đột giữa Israel và Palestin đã dành được một vài chiến thắng mới (chẳng hạn như cựu Bộ Trưởng Pháp Lý của Israel là Yossi Beilin và một chính trị gia người Palestin là Yasser Abed Rabu, cả hai đồng là tác giả của bản thảo về hiệp ước hòa bình) là những người được tất cả mọi người dân của cả hai phía lắng nghe và tin cẩn hơn là chính bản thân của hai ông Sharon và Arafat.
Nhiều công dân ở vùng Trung Đông và tại đất nước Irắc này giờ đây đang yêu cầu rằng phải tạo ra một thế giới, mà qua đó, nhân quyền phải được tôn trọng, cũng như tôn trọng những mối ban giao với các quốc gia khác. Và đó là điều đang được diễn ra, trong khi đó, thì tại Châu Âu, người ta đang phải lượng giá xem là liệu có nên nhảy vào Irắc hay không, nếu có chăng, thì đó chỉ là để tồn tại về mặt kinh doanh và việc áp đặt những mơ tưởng thiển cận về một chủ nghĩa hòa bình mà thôi!