Theo tin Tòa Thánh, Chúa nhật, ngày 8 tháng 11 năm 2026, trước khi từ giã Uruguay để qua Argentina tiếp tục cuộc tông du Ba Quốc Gia Châu Mỹ La-tinh, Đức Leo XIV đã tới Đền thánh Quốc gia Đức Mẹ Ba Mươi Ba Vị ở Florida, cách Montevideo khoảng 90 Km đường chim bay, để cử hành Thánh Lễ Long Trọng nhân Chúa nhật thứ 32 Mùa Thường niên. Nhân dịp này, ngài đã có bài giảng Lễ sau đây, dựa theo bản tiếng Anh của Tòa Thánh:

_________________________________
Anh chị em thân mến trên mảnh đất Uruguay này,
Với tất cả lòng nhiệt thành, hôm nay tôi hiện diện tại đây cùng anh chị em, bên cạnh Đức Mẹ Ba Mươi Ba Vị. Tôi đến với tư cách là một người hành hương để cùng chia sẻ đức tin và sự dịu dàng mà bao thế hệ người dân Uruguay đã dành cho Mẹ Thiên Chúa. Tôi xin gửi lời chào đến tất cả những ai đã từ khắp nơi đổ về đây, những người đã thực hiện cuộc hành hương này suốt nhiều năm qua, cũng như những ai lần đầu tiên đặt chân đến nơi này hôm nay: Tôi ôm lấy tất cả anh chị em bằng tình yêu mến và phó thác anh chị em cho sự che chở của Đức Maria.
Hôm nay, Lời Chúa giới thiệu với chúng ta hai người phụ nữ sống ở hai thời đại rất khác nhau, nhưng cả hai đều được ban cho cùng một phúc lành. Đối với bà Giu-đi-tha, sau khi dân tộc bà được giải thoát, người ta đã thưa với bà rằng: “Hỡi con, con được Thiên Chúa Tối Cao chúc phúc hơn mọi phụ nữ trên mặt đất” (Giu-đi-tha 13:18). Nhiều thế kỷ sau, bà Ê-li-sa-bét chào đón Đức Maria vào nhà mình và thốt lên: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ” (Lc 1:42).
Mối liên hệ này đã sớm được truyền thống Kitô giáo nhận ra. Nơi bà Giu-đi-tha, truyền thống ấy nhìn thấy một người phụ nữ không để nỗi sợ hãi khuất phục trong thời điểm đầy gian khó của dân tộc mình. Qua cầu nguyện và ăn chay, bà đã đưa ra một quyết định khiến bản thân phải đối diện với hiểm nguy đến tính mạng (x. Giu-đi-tha 8–10). Khi chiến thắng đến, bà Giu-đi-tha không nhận công lao về mình, bởi bà biết rõ ai là Đấng đã cứu thoát Ít-ra-en; bà nói: “Hãy khởi xướng bài ca dâng lên Thiên Chúa của tôi với trống cơm, hãy hát mừng Chúa của tôi với chũm chọe” (Giu-đi-tha 16:1). Chính vì vậy, những lời mà dân chúng dành để chào đón bà thật đầy vẻ uy nghi: “Bà là vinh quang của Giê-ru-sa-lem, là niềm tự hào lớn lao của Ít-ra-en, là niềm kiêu hãnh vĩ đại của dân tộc chúng ta!” (Giu-đi-tha 15:9). Dân chúng đã cùng nhau ca tụng những gì Thiên Chúa đã thực hiện cho họ thông qua bà Giu-đi-tha. Việc lắng nghe những lời này hôm nay, trước sự hiện diện của Đấng Bảo trợ quốc gia, mang một ý nghĩa đặc biệt. Bức tượng nhỏ bé này gắn liền với một thời khắc quyết định trong lịch sử Uruguay. Vào năm 1825, những người đấu tranh cho sự tự do của mảnh đất này đã hướng về Đức Maria, đặt khởi đầu cho nỗ lực của họ dưới sự che chở của Mẹ. Cử chỉ ấy nhắc nhở chúng ta rằng, lịch sử của các dân tộc cũng không thể được hiểu một cách trọn vẹn nếu thiếu đi mối liên hệ với Thiên Chúa. Như vậy, ngay từ những ngày đầu khai quốc, Uruguay đã gắn bó mật thiết với một người Mẹ. Kể từ đó, bao thế hệ đã đi qua, hoàn cảnh cũng đổi thay, bao gồm cả thái độ của nhiều người Uruguay đối với đức tin. Thế nhưng, Mẹ vẫn ở đây. Trong khi Đức Maria đồng hành cùng lịch sử của dân tộc này, thì ở vô số mái ấm khác, những người phụ nữ cũng đã gìn giữ đức tin và truyền lại cho con cái mình.
Tôi nghĩ đến những người mẹ đã đặt những lời cầu nguyện đầu tiên lên đôi môi con trẻ, đưa con đi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chuẩn bị cho con đón nhận các bí tích khác, và dạy con sống đức bác ái Kitô giáo. Tôi nghĩ đến những người bà đã lập bàn thờ tại gia, cầu nguyện cho người sống cũng như người đã khuất, và làm cho Thiên Chúa hiện diện trong những sự kiện bình thường của cuộc sống. Ngay từ thuở sơ khai của Giáo hội, chúng ta cũng thấy những hình ảnh tương tự. Đức tin của Ti-mô-thê bắt nguồn từ hai người phụ nữ; Thánh Tông đồ đã trìu mến nhắc đến bà ngoại Lô-ít và mẹ Ê-u-ni-kê của ngài. Nơi họ, một “đức tin chân thành” đã bén rễ, điều mà Thánh Phao-lô cũng nhận thấy nơi Ti-mô-thê (x. 2 Tm 1:5). Kinh Thánh không nói nhiều về hai người phụ nữ ấy, nhưng chúng ta biết rằng Ti-mô-thê – người sau này trở thành cộng sự thân cận của Thánh Phao-lô – đã được vun đắp nhờ đức tin học được ngay tại mái ấm gia đình (x. Cv 16:1-3).
Mảnh đất này cũng ghi dấu tên tuổi của những người phụ nữ trong lịch sử đức tin. Trong số đó có Thánh María Francisca Rubatto, người đã chọn ở lại giữa anh chị em để phục vụ những người túng thiếu nhất tại đây. Ngoài ra còn có các Chân phước Tử đạo Dolores và Consuelo Aguiar-Mella, hai chị em sinh ra tại Montevideo. Cuộc đời của họ rất khác nhau, nhưng ở cả ba người, chúng ta đều thấy những tấm gương sáng ngời về lòng trung tín.
Tuy nhiên, phần lớn lịch sử đức tin này tại đất nước chúng ta đã không được ghi lại trong sách vở. Nó được âm thầm truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong các gia đình. Khi tự hỏi đức tin của mình bắt nguồn từ đâu, chúng ta thường nhớ đến một người phụ nữ cụ thể: có thể là mẹ, bà, mẹ đỡ đầu, một nữ tu hay một giáo lý viên. Chúng ta có thể không nhớ hết từng lời họ đã nói, nhưng chắc chắn vẫn nhớ cách họ cầu nguyện, cách họ nói về Chúa, và sự xác tín mà họ thể hiện qua chính lối sống của mình.
Hôm nay, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến tất cả những người phụ nữ ấy. Cảm ơn quý vị đã tin tưởng và giữ cho con đường dẫn đến Thiên Chúa luôn rộng mở trong biết bao gia đình. Một số người nhận được sự nâng đỡ từ truyền thống gia đình lâu đời; những người khác phải nỗ lực hơn nhiều để duy trì đức tin đó, đôi khi trong hoàn cảnh không nhận được sự thấu hiểu hay ủng hộ từ chính những người thân trong nhà. Tôi biết rằng nhiều người trong số quý vị đang mang trong lòng một nỗi buồn sâu xxa. Quý vị đã dạy con cái cầu nguyện, nhưng nay chúng không còn cầu nguyện nữa. Trước đây, cả gia đình từng cùng nhau tham dự Thánh lễ, vậy mà đã nhiều năm rồi, con cái quý vị không còn bước chân vào nhà thờ. Quý vị đã từng nói với các cháu về Thiên Chúa, và giờ đây bạn không biết liệu những lời đó có để lại dấu ấn gì hay không. Đôi khi quý vị tự hỏi liệu mình có làm điều gì sai sót, hay tất cả những nỗ lực ấy đều vô ích. Hãy để tôi nhắc đến Thánh Monica, người thấu hiểu nỗi đau đó hơn ai hết. Bà đã cầu nguyện suốt nhiều năm cho người con trai dường như ngày càng rời xa Thiên Chúa, nhưng bà chưa bao giờ ngừng tin tưởng vào ân sủng của Người. Vì vậy, đừng nghĩ rằng những gì quý vị đã gieo xuống đều đã mất. Chính Chúa đã dạy chúng ta rằng hạt giống có thể lớn lên mà người gieo không hề hay biết bằng cách nào (x. Mc 4:27).
Thưa các bà mẹ và các bà: đừng bao giờ mệt mỏi trong việc truyền lại đức tin! Hãy rao giảng bằng chính cuộc sống của mình, cũng như bằng lời nói. Hãy kiên trì với cầu nguyện, tình yêu và hy vọng; hãy kiên trì trong mọi hoàn cảnh, dù thuận lợi hay khó khăn (x. 2 Tm 4:2). Hãy thực hiện điều đó với sự kiên nhẫn, không gay gắt cũng chẳng nản lòng. Ngay cả khi những người thân yêu dường như đang xa rời Thiên Chúa, hãy tiếp tục đặt họ trước mặt Người. Đừng ngừng chúc lành cho họ, đồng hành cùng họ, và đơn giản là nhắc nhở họ về những gì họ đã từng đón nhận. Có những cánh cửa mà quý vị không thể mở, nhưng Thiên Chúa thì có thể.
Tôi cũng muốn nhắn nhủ đến những người đàn ông — các người cha và các người ông. Con cái và các cháu của quý vị cần thấy rằng đức tin chiếm một vị trí thực sự trong cuộc sống của những người đàn ông trong gia đình. Hãy noi gương Thánh Giuse, người đã đảm nhận trọng trách nuôi dạy Chúa Giêsu, đưa Người đến đền thờ, dạy Người làm việc lương thiện và cho Người thấy rằng Thiên Chúa phải luôn là ưu tiên hàng đầu trong cuộc đời mỗi người. Các người cha, các người ông thân mến, người trẻ cần thấy rằng quý vị biết cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích, đối xử tôn trọng với vợ mình, biết xin lỗi và sống chính trực, ngay cả khi điều đó đòi hỏi sự hy sinh. Con cái học hỏi được rất nhiều khi thấy cha mình có thể quỳ gối trước Thiên Chúa mà không hề cảm thấy mình kém nam tính đi chút nào.
Kinh Thánh kêu gọi dân Chúa hãy ghi khắc những lời họ đã nhận lãnh từ Người vào lòng, truyền dạy lại cho con cái, và nhắc đến những lời ấy “khi ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi nằm xuống cũng như khi thức dậy” (Đnl 6:7). Thiên Chúa là trung tâm trong các cuộc trò chuyện, trong việc đưa ra quyết định và trong đời sống gia đình hằng ngày. Nhờ đó, con cái nhận thấy rằng đức tin mà chúng lãnh nhận từ cha mẹ cũng chính là kim chỉ nam cho đời sống của chính cha mẹ chúng. Ngày nay cũng vậy, các giám mục, linh mục và những người sống đời thánh hiến được mời gọi hỗ trợ các gia đình trong sứ vụ này; các ngài thực thi tình phụ tử và mẫu tử thiêng liêng một cách quảng đại, đồng hành với những ai đang vấp ngã và giúp nhiều người tìm lại con đường dẫn đến Thiên Chúa.
Truyền đạt đức tin nghĩa là dẫn đưa người khác đến với Đức Kitô, Đấng mà chính chúng ta đã gặp gỡ. Đức Maria cho chúng ta thấy rõ cách thức thực hiện điều đó. Trong Tin Mừng, bà Elisabeth chào đón Mẹ bằng lời reo vui: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” (Lc 1:42). Đức Maria không giữ lấy lời tán dương ấy cho riêng mình. Khi bà Elisabeth tuyên xưng Mẹ là người có phúc, Đức Maria đã đáp lại bằng bài ca ngợi khen sự cao cả của Chúa (x. Lc 1:46-55). Tại Cana, khi mọi người tìm đến Mẹ, Mẹ đã hướng họ về phía Con mình: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo” (Ga 2:5).
Trong bài đọc thứ hai, thánh Phaolô khẳng định rõ ràng một chân lý mà toàn bộ cuộc đời Đức Maria đều minh chứng: “Chỉ có một Thiên Chúa, cũng chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu” (1 Tm 2:5). Mọi sự cao cả nơi Đức Maria đều bắt nguồn từ mối tương quan của Mẹ với Đức Kitô: Mẹ đón nhận Người, sống nhờ Người, và dẫn đưa người khác đến với Người. Gặp gỡ Thầy Chí Thánh chính là mục đích của mọi công cuộc loan báo Tin Mừng và mọi lòng sùng kính Đức Maria đích thực. Con Thiên Chúa đã hiến dâng chính mình vì tất cả mọi người; vì thế, không ai bị loại trừ khỏi lời cầu nguyện của Giáo hội. Đó là lý do tại sao Thánh Phao-lô mời gọi chúng ta cầu nguyện “cho các vua chúa và tất cả những người nắm quyền” (1 Tm 2:2), cũng như cho mọi người, bởi vì Thiên Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ” (1 Tm 2:4).
Trong ngày lễ kính Đấng Bảo trợ của Uruguay, chúng ta hãy dâng toàn thể dân tộc này lên trước nhan Chúa. Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người gánh vác trách nhiệm điều hành đất nước, để họ biết tìm kiếm lợi ích chung cho mọi người một cách chính trực; cầu nguyện cho các gia đình, cho giới trẻ, cho những người đang đau khổ, cho những ai cảm thấy xa rời Thiên Chúa, và cho cả những người cần quay trở về với Người để thay đổi cuộc đời mình.
Thánh Luca cho chúng ta thấy sứ mạng ấy khởi đầu như thế nào. Sau khi thụ thai Con Thiên Chúa, Đức Maria đã “vội vã lên đường” (1:39). Ngài không đợi bà Elisabeth tìm đến mình, mà chủ động đi gặp bà và bước vào nhà bà, mang theo Chúa bên mình. Tại đó, hài nhi nhảy mừng trong lòng mẹ, còn bà Elisabeth thì được tràn đầy Chúa Thánh Thần (x. Lc 1:41-44). Hành động của Đức Maria cũng chỉ ra con đường cho chúng ta. Chúng ta không thể cứ mãi chờ đợi những người đã lạc bước tự mình quay trở về. Hỡi người dân Uruguay, anh chị em hãy lên đường! Hãy bước vào nhà của mọi người, đến gần họ, lắng nghe những trăn trở của họ và dẫn đưa họ đến với Chúa Kitô! Mỗi người trong anh chị em đều biết một ai đó mà mình cần tiến một bước về phía họ: có thể là con cái, bạn bè, người hàng xóm, một người đã từ bỏ đức tin từ lâu, hoặc một người chưa từng có ai gần gũi để nói cho họ biết về Thiên Chúa.
Xin Nữ Vương Thiên Đàng nâng đỡ những ai vẫn đang tiếp tục gieo hạt giống đức tin. Xin Mẹ dạy chúng ta biết nhận ra Chúa Kitô nơi người nghèo khổ, người bệnh tật và những ai đang cô đơn và dạy chúng ta đưa Người đến những nơi mà Người chưa được biết đến.
Chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ đặt đóa Hồng Vàng trước hình ảnh này. Qua cử chỉ đó, tôi muốn tôn vinh Đấng thực sự là “niềm tự hào lớn lao của dân tộc chúng ta” (Giu-đi-tha 15:9) và làm cho lời bà từng thốt lên được hiển hiện: “Mọi thế hệ sẽ khen tôi có phúc” (Lu-ca 1:48).
Với Đức Maria, Đấng dẫn dắt và chỉ lối cho dân tộc này, tôi muốn tái dâng hiến quốc gia này, phó thác vùng đất này cùng tất cả những ai đang sinh sống tại đây cho sự che chở của ngài. Tôi cũng cầu xin Thiên Chúa, nhờ lời chuyển cầu đầy quyền năng của Đức Mẹ, ngăn chặn những mưu đồ của ác thần và gìn giữ đất nước Uruguay thân yêu khỏi bất cứ điều gì có thể khiến quốc gia này rời xa Đức Kitô. Nguyện xin đóa Hồng Vàng này – biểu tượng của lòng tôn kính và tình con thảo – cũng nhắc nhở các tín hữu rằng họ được mời gọi noi gương Đức Mẹ: yêu mến Đức Kitô như ngài đã yêu mến Người, và mang Người đến cho tha nhân như chính ngài đã từng mang Người đến cho họ. Amen.
____________________________________
Lời cảm ơn của Đức Thánh Cha khi kết thúc Thánh lễ
Khi cử hành Thánh Thể này khép lại, trước lúc chia tay đất nước thân yêu này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những ai đã góp phần làm nên chuyến thăm của tôi. Tôi xin cảm ơn các vị lãnh đạo dân sự và tôn giáo, các nhóm tổ chức từng sự kiện, các tình nguyện viên, các gia đình và cộng đoàn đã cùng chung tay làm việc để chúng ta có thể chia sẻ những ngày vừa qua bên nhau; tôi cũng xin cảm ơn những ai đã đồng hành cùng chúng ta qua các phương tiện truyền thông. Tôi từng được nghe nói rằng, dù Uruguay là một quốc gia tương đối nhỏ, nhưng người dân nơi đây có những trái tim quảng đại và có khả năng thực hiện những điều cao cả. Điều đó đã được minh chứng rõ nét trong những ngày qua. Anh chị em đã chuẩn bị mọi sự thật chu đáo; tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả anh chị em.
Chúng ta đã cùng nhau chia sẻ niềm vui đức tin vào Đức Kitô, và chúng ta đã chứng kiến niềm vui ấy lớn dần lên qua từng ngày. Nguyện xin những gì chúng ta đã trải nghiệm tại Montevideo, Paysandú và tại Florida này sẽ lan tỏa đến khắp mọi miền đất nước và toàn thế giới. Đó chính là toán học của đức tin: những gì chúng ta đã lãnh nhận và quảng đại trao đi, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, sẽ được nhân lên, mở ra những chân trời mới và làm phong phú cuộc sống của chúng ta, mang lại cho cuộc sống ấy một ý nghĩa mới. Hỡi anh chị em tại Uruguay, hãy góp phần giúp cho đức tin, niềm hy vọng và đức ái không ngừng tăng trưởng. Hãy tiếp tục sống và loan báo niềm vui nảy sinh từ cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô, và nhờ đó, anh chị em sẽ có một cuộc sống trọn vẹn và đầy hoa trái.
Thông qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ Ba Mươi Ba (Nuestra Señora de los Treinta y Tres), tôi cầu xin Thiên Chúa ban phúc lành cho người dân Uruguay và dẫn đưa họ trên những nẻo đường của sự hiệp nhất và hòa bình. Tôi luôn mang anh chị em trong tim và mong anh chị em tiếp tục đồng hành cùng tôi bằng những lời cầu nguyện. Cảm ơn Uruguay rất nhiều!