Chương 14: GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI TRONG THẾ GIỚI KITÔ GIÁO PHƯƠNG TÂY



Ranh giới của Thế giới Kitô giáo thời Trung cổ tiếp tục mở rộng cho đến thế kỷ thứ mười bốn. Việc cải đạo người Frank, Lombard, Anglo-Saxon và Visigoth vào thế kỷ thứ sáu và thứ bảy được tiếp nối bởi việc cải đạo người Frisia và người Đức vùng Hesse vào thế kỷ thứ bảy và thứ tám. Việc Charlemagne cưỡng ép người Saxon cải đạo diễn ra vào cuối thế kỷ thứ tám. Việc cải đạo người Đức phía bắc và người Slav phía tây diễn ra trong thế kỷ thứ chín, thứ mười và thứ mười một. Và cuối cùng, các dân tộc vùng Baltic được sáp nhập vào Kitô giáo vào thế kỷ thứ mười ba và thứ mười bốn.

Các vị vua Scandinavia đóng vai trò rất quan trọng trong việc Kitô hóa Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển. Vua Sven của Đan Mạch (mất năm 1014) và con trai ông là Canute (mất năm 1035) đã đưa các nhà truyền giáo đến Đan Mạch, trong khi hai vị vua Na Uy, cả hai đều tên là Olaf, đã làm điều tương tự cho Na Uy vào thế kỷ thứ mười một. Tín ngưỡng đa thần tồn tại lâu nhất ở Thụy Điển, nhưng với sự cải đạo của các nước láng giềng Đan Mạch, Na Uy và Ba Lan, áp lực ngày càng gia tăng, và đến cuối thế kỷ thứ mười một, hầu hết sự kháng cự đã bị vượt qua. Năm 1164, Giáo hoàng đã phong Uppsala làm tổng giám mục cho toàn Thụy Điển.

Trong các cuộc di cư lớn, người Slav lan rộng khắp Trung Âu và chiếm đóng vùng đất rộng lớn từ sông Dnieper đến sông Elbe và Saale, bao gồm cả Bohemia. Thánh Cy-ri-lô (mất năm 869) và Thánh Mê-thô-đi-ô (mất năm 885) đã đạt được một số thành công với tư cách là những nhà truyền giáo cho người Slav ở Moravia vào thế kỷ thứ chín, và Cy-ri-lô đã phát minh ra bảng chữ cái Slav bằng cách kết hợp các chữ cái Hy Lạp với một số chữ cái mới để cung cấp cho người Slav một ngôn ngữ phụng vụ.

Nhưng phải đến thế kỷ thứ mười, Kitô giáo mới thực hiện được những bước tiến thực sự trong các dân tộc Slav. Các hoàng tử Bohemia tìm kiếm sự bảo vệ từ Đức chống lại những kẻ xâm lược Magyar hung bạo và do đó bị ảnh hưởng hướng về Kitô giáo; năm 973, một giáo phận cho Bohemia được thành lập tại Praha. Từ đó, Ki-tô giáo lan rộng trong dân Ba Lan, mà vị hoàng tử nổi tiếng Mieszko (mất năm 990) đã vững chắc thiết lập Vương quốc Ba Lan và dâng vương quốc của mình cho Thánh Phê-rô và Giáo hoàng. Một sắc lệnh của Giáo hoàng năm 1000 đã trao cho Ba Lan một tổ chức giáo hội riêng dưới sự lãnh đạo của một tổng giám mục tại Gnesen. Bằng cách này, Ba Lan đã được đưa vào quỹ đạo của phương Tây. Việc cải đạo của người Hung-Gia Lợi cũng được thực hiện tương tự trong thế kỷ thứ mười và thứ mười một.

Trong một thời gian, dường như Nga cũng có thể theo chân Ba Lan và Hung Gia Lợi vào quỹ đạo của Giáo hoàng. Được thành lập như một nhà nước Kiev vào thế kỷ thứ chín bởi các thương nhân Viking, những người dần dần hòa nhập với thần dân Slav của họ, Nga đã tiếp nhận các nhà truyền giáo từ cả phương Đông lẫn phương Tây ngay từ thế kỷ thứ chín. Nhưng chỉ đến thời Vladimir (mất năm 1015) thì Ki-tô giáo mới được chính thức chấp nhận. Sau khi trò chuyện với các sứ giả của Giáo hoàng và Thượng phụ cũng như với người Hồi giáo và người Do Thái, vị hoàng tử Nga đã cân nhắc những mặt lợi và hại và cuối cùng quyết định chấp nhận phép rửa tội trong Giáo hội Byzantine - một quyết định có tầm quan trọng to lớn đối với tương lai tôn giáo của Nga. Là một Giáo hội phái sinh từ Giáo hội Byzantine, Nga đã theo Cons-tan-ti-nốp ly khai khỏi Rô-ma vào thế kỷ tiếp theo. Những người Đông Âu cuối cùng chấp nhận Kitô giáo là người dân vùng Baltic ở Livonia, Phổ và Litva vào thế kỷ XIII và XIV.

Giáo hội đã làm thế nào để đáp ứng nhu cầu tâm linh cũng như vật chất của khối tín hữu khổng lồ của mình—ước tính vào thời Đức In-nô-cen-tê III có khoảng bảy mươi triệu người? Tổ chức giáo hội bao gồm tất cả họ (ngoại trừ một thiểu số nhỏ người Do Thái) được chia thành khoảng bốn trăm giáo phận, mỗi giáo phận do một giám mục hoặc tổng giám mục cai quản, những người về mặt giáo luật phải tuân theo Giáo hoàng, mặc dù thường thì họ là người đại diện cho nhà vua nhiều hơn. Bên cạnh việc là một địa chủ lớn và lãnh chúa phong kiến, giám mục hoặc tổng giám mục còn là thẩm phán và nhà lập pháp, người đứng đầu hệ thống phẩm trật giáo hội địa phương. Ngài thường có quan hệ họ hàng với những gia đình quyền lực nhất trong vùng và được đề cử vào chức vụ này như một phần thưởng cho tài năng quản lý hoặc thành tích xuất sắc trong chính quyền thế tục, bởi vì các vị vua thường dựa vào giới giáo sĩ để bổ nhiệm nhân sự cho bộ máy hành chính, do giáo dục thế tục rất hiếm hoi trong suốt thời Trung cổ. Những công chức giáo sĩ này thường ở các bậc chức sắc thấp hơn và chỉ được phong chức linh mục khi được bổ nhiệm làm giám mục. Một ví dụ điển hình là giám mục người Anh thế kỷ XIV, William xứ Wykeham. Ông đã xây dựng một sự nghiệp xuất sắc trong hoàng gia với tư cách là người đứng đầu văn phòng công trình – một chức vụ mà ông gần như tự tạo ra. Ông bận rộn đến nỗi nhà biên niên sử Froissart đã áp dụng cho ông câu Kinh thánh, “Mọi việc đều được thực hiện bởi ông, và không có ông thì không có gì được thực hiện cả.” (55) Khi được bầu làm giám mục Winchester năm 1367, William ngay lập tức được bổ nhiệm làm tể tướng của vương quốc.

Nhiệm vụ của giám mục rất nhiều và đa dạng: hành chính, tư pháp và tâm linh. Một trong những nhiệm vụ chính của ngài là tiến hành các cuộc thanh tra tôn giáo. Giám mục thường đến thăm các cơ sở giáo xứ trong giáo phận của mình. Ngài thường tổ chức buổi thăm viếng tại nhà thờ địa phương và triệu tập các giáo sĩ trong khu vực cùng một số giáo dân đến tham dự. Sau khi xác minh tư cách của các giáo sĩ, giám mục sẽ thẩm vấn các giáo dân về hành vi của giáo sĩ – liệu họ có thực hiện nhiệm vụ của mình đúng mực hay không, liệu họ có mặc lễ phục giáo sĩ hay không, liệu họ có thường xuyên lui tới quán rượu hay chơi xúc xắc hay không. Và giáo dân cũng phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Cuối cùng, giám mục sẽ kiểm tra tình trạng vật chất của nhà thờ và các vật dụng kèm theo. Giám mục cũng tổ chức các hội nghị giáo sĩ, tại đó ngài đưa ra luật lệ về nhiều vấn đề thuộc thẩm quyền của mình. Quyền lực lớn nhất của ngài, và thường là nguyên nhân gây ra sự bất mãn của giáo dân, là tòa án của ngài, nơi ngài thực thi quyền tài phán đối với nhiều vấn đề khác nhau, bao gồm hành vi đạo đức, hôn nhân và di chúc.

Một trong những nhiệm vụ tâm linh quan trọng nhất của ngài là phong chức linh mục cho nam giới. Vì không có chủng viện nào để đào tạo các ứng viên (chỉ có Công đồng Trentô mới quy định), những người muốn thụ phong linh mục chỉ cần đến trình diện ba ngày trước buổi lễ và tham gia kỳ thi vấn đáp kéo dài ba ngày. Nếu họ chứng tỏ được sự hiểu biết vững chắc về đức tin Công Giáo và có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ đơn giản, họ sẽ được chấp nhận thụ phong, với điều kiện đủ tuổi theo giáo luật (hai mươi bốn tuổi đối với chức linh mục) và không bị loại trừ vì lý do xuất thân nô lệ, con ngoài giá thú hoặc khuyết tật về thể chất.

Mỗi giáo phận được chia thành các giáo xứ, thường do các linh mục triều phụ trách. Linh mục chia sẻ quyền năng thiêng liêng của giám mục trong việc thánh hiến và cử hành các bí tích. Không giống như giám mục, họ thường được chọn từ tầng lớp thấp hơn. Sau khi được giám mục hoặc người bảo trợ giáo dân bổ nhiệm vào giáo xứ, hoặc đôi khi được giáo dân bầu chọn, họ có nhiệm vụ tương tự như ngày nay: dâng Thánh lễ cho giáo dân, đặc biệt là vào Chúa nhật, rửa tội, giải tội, chăm sóc người bệnh và chôn cất người chết. Nhiệm vụ đặc biệt của ngài là khuyên nhủ giáo dân quan tâm đến người nghèo. Ngài cũng có thể đóng vai trò là tuyên úy cho một hội đoàn giáo xứ, có thể mang tính chất huynh đệ và sùng kính.

Linh mục địa phương thường khó phân biệt với giáo dân của mình, mặc dù về lý thuyết và thần học, lẽ ra phải có sự phân tách rõ ràng. Theo quan niệm của Đức Giáo Hoàng Grê-go-ri-ô, các linh mục phải tạo thành một đội quân kỷ luật, hành động hoàn toàn đồng bộ dưới sự chỉ đạo của Giáo hoàng, tách biệt khỏi mọi nghề nghiệp thế tục, với đồng phục đặc biệt là áo choàng dài (một di vật của áo toga Rô-ma), và cai trị một giáo dân ngoan ngoãn và dễ tiếp thu, bao gồm cả vua chúa, lãnh chúa và nông dân. Và một trong những mục tiêu chính của các nhà cải cách thời Đức Grê-go-ri-ô là khôi phục lại chế độ độc thân, vốn đã suy tàn vào thế kỷ thứ mười một. Lòng nhiệt thành của họ chống lại hôn nhân của giáo sĩ một phần xuất phát từ nhận thức của họ về việc hôn nhân có xu hướng đồng hóa giới giáo sĩ với môi trường thế tục xung quanh. Họ đã đạt được thành công đáng kể trong việc khôi phục chế độ độc thân và mang lại sự rõ ràng và chính xác hơn cho luật lệ của Giáo hội về vấn đề này. Tại Công đồng Lateranô II (1139), cuối cùng họ đã thành công trong việc tuyên bố tất cả các cuộc hôn nhân của giáo sĩ là vô hiệu.

Nhưng những luật lệ này hữu hiệu đến đâu vẫn còn là một câu hỏi. Việc giáo sĩ có vợ lẽ dường như vẫn phổ biến trong thời Trung Cổ, và dường như luôn có rất nhiều con ngoại hôn của các linh mục. Một tác giả đã phát hiện ra rằng vào một ngày (22 tháng 7 năm 1342) - được chọn ngẫu nhiên - Giáo triều đã ban hành 614 giấy miễn trừ cho các trở ngại hôn nhân, trong đó 484 giấy liên quan đến con ngọai hôn của các linh mục. (56) Tuy nhiên, việc các giám mục vi phạm luật dường như tương đối hiếm.

Chính tại Thánh lễ mà sự tách biệt giữa giáo sĩ và giáo dân được thể hiện rõ ràng một cách đáng kể. Mặc dù Thánh lễ vẫn giữ cấu trúc bữa ăn cơ bản của nó, nhưng ngay cả trong những thế kỷ đầu, nó đã bắt đầu rời xa bản chất ban đầu của nó như một hành động của toàn thể cộng đồng. Xu hướng này đã được tăng cường trong thời kỳ đầu Trung Cổ. Dần dần, người dân bị loại trừ khỏi mọi sự tham gia, và Thánh Lễ trở thành công việc riêng của linh mục, còn giáo dân chỉ đóng vai trò là người xem. Trong Thánh Lễ thời Trung cổ, linh mục không còn mặc quần áo thường ngày như trước nữa, mà bước vào cung thánh trong chiếc áo lễ thêu cầu kỳ và bắt đầu thì thầm những lời cầu nguyện bằng một ngôn ngữ mà người dân không còn hiểu được. Họ đứng cách xa linh mục, bị ngăn cách bởi một hàng rào nặng nề, càng làm nổi bật tính thánh thiêng l của cung thánh. Họ không còn được phép mang bánh mì thường ngày lên để thánh hiến; linh mục thánh hiến bánh không men đã được chuẩn bị sẵn dưới dạng hình tròn nhỏ. Họ cũng không được phép cầm bánh thánh trên tay khi đứng như trước nữa; giờ đây họ phải quỳ xuống và nhận bánh thánh trên lưỡi, trong khi chén thánh bị giữ lại khỏi họ.

Bản chất siêu việt, uy nghiêm và huyền bí của Thánh Lễ đã gần như xóa nhòa hoàn toàn tinh thần tham gia cộng đồng lúc ban đầu. Đó là điều xảy ra tại bàn thờ, đó là “sự hiển linh của Thiên Chúa”. Đó là điều bạn chỉ được xem. Các hành động khác nhau của linh mục không còn dễ hiểu trong bối cảnh này, vì vậy chúng được gán cho ý nghĩa huyền bí và phúng dụ. Thánh Lễ trở thành một loại vở diễn tái hiện cuộc đời, cái chết và sự đau khổ của Chúa Kitô. Bài ca “Gia Longoria” được hát để nhắc nhở người ta về các thiên thần loan báo sự giáng sinh của Chúa Kitô. Sau đó là việc đọc Tin Mừng– câu chuyện về cuộc đời công khai và việc rao giảng của Người. Tiếp theo là những lời cầu nguyện thầm lặng của linh mục, tượng trưng cho Chúa Kitô cầu nguyện trong vườn Diệt-si-ma-ni. Khi dang rộng hai tay, ngài tượng trưng cho Chúa Kitô chịu đau khổ trên thập giá. Năm lần ngài làm dấu thánh giá trên chén thánh và bánh thánh để tượng trưng cho năm vết thương. Khi ngài quỳ xuống, đó là để tượng trưng cho cái chết của Chúa Kitô, và khi ngài đứng dậy, đó là để tượng trưng cho sự phục sinh của Người.

Chỉ có các đan sĩ, nữ tu và linh mục mới thường xuyên rước lễ. Mục đích chính của giáo dân khi đến Thánh lễ là để được nhìn thấy bánh thánh đã được thánh hiến, và đối với nhiều người, đỉnh điểm là khi linh mục nâng bánh thánh lên sau khi truyền phép. Chuông báo hiệu được rung lên trước đó để cảnh báo các tín hữu, nhiều người trong số họ sẽ đi quanh quẩn khắp thị trấn, từ nhà thờ này đến nhà thờ khác chỉ để có mặt tại thời điểm nâng bánh thánh. Đôi khi họ sẽ trả cho linh mục một khoản tiền đặc biệt chỉ để được nâng bánh thánh cao hơn và lâu hơn, và một số người thậm chí còn kiện tụng để có được vị trí tốt nhất để xem bánh thánh. Thái độ này đã làm phát sinh nhiều hình thức sùng kính tập trung vào bánh thánh. Toàn bộ thị trấn sẽ đổ ra đường vào những ngày lễ như Lễ Mình Thánh Chúa vào tháng Sáu, khi linh mục sẽ rước bánh thánh qua thị trấn, được đặt trong một bình đựng bánh thánh bằng vàng lấp lánh.

Bên cạnh hàng giáo sĩ triều, những người có trách nhiệm chính là chăm sóc các giáo xứ, còn có (và vẫn còn) một số lượng lớn các linh mục, đan sĩ, thầy dòng và nữ tu sống trong các đan viện và nhà dòng, được gọi giáo sĩ dòng (regular), khác với giáo sĩ triều. Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Latinh "regula", nghĩa là quy tắc, và được sử dụng vì những người tu hành này tuân theo một quy tắc sống chung dựa trên việc giữ ba lời thề: nghèo khó, trinh tiết và vâng lời.

Những người tu hành này được chia nhỏ hơn nữa thành các đan sĩ và nam tu sĩ [friars], mỗi nhóm đều có các nữ tu tương ứng. Các nam tu sĩ xuất hiện trong lịch sử muộn hơn nhiều so với các đan sĩ.

Mặc dù có một cuộc cải cách ngắn ngủi do Thánh Bê-nê-đic-tô, viện phụ của Aniane (mất năm 821) lãnh đạo, các đan viện vẫn rơi vào vòng xoáy của những tệ nạn và rối loạn tương tự như xã hội thế tục trong thời kỳ sụp đổ của Đế quốc Carolingian. Nhiều đan viện rơi vào tình trạng suy đồi hoàn toàn và trong một số trường hợp hầu như chỉ là những cứ điểm của bọn cướp. Nhưng một phong trào cải cách mạnh mẽ đã bắt đầu tại tu viện Cluny ở Burgundy, nơi một loạt các vị viện phụ tài ba—Odo (mất năm 941), Mayeul (mất năm 994) và Odilo (mất năm 1048)—đã khôi phục việc tuân thủ nghiêm ngặt Quy tắc của Thánh Bê-nê-đic-tô và cung cấp một mô hình cải cách lan rộng đến nhiều đan viện khác ở Hòa Lan, Ý, Tây Ban Nha, Anh và Đức.

Trước cuộc cải cách Cluny, không hề có khái niệm về một “dòng” đơn tu nào cả. Mỗi đan viện là một đơn vị độc lập, tự quản, trực thuộc Giáo hoàng hoặc giám mục địa phương. Nhưng những người theo dòng Cluny đã giới thiệu một khái niệm mới: Các đan viện khác nhau được nhóm lại với nhau thành một “dòng” tu dưới quyền lực tập trung của viện phụ Cluny, người mà họ phải tuyệt đối tuân phục. Đồng thời, họ được miễn hoàn toàn khỏi quyền lực của giám mục địa phương. Đến năm 1100, Dòng Cluny bao gồm khoảng hai nghìn đan viện, nhà dòng và tu viện nhỏ.

Cuộc cải cách Cluny đã đóng góp quan trọng vào sự tiến bộ về mặt tâm linh trong Giáo hội thời Trung cổ. Nó cũng là một dòng ủng hộ xuất sắc cho chế độ quân chủ của Giáo hoàng và không nghi ngờ gì nữa, là sức mạnh tinh thần chính đằng sau cuộc cải cách Grê-go-ri-ô và cuộc đấu tranh giải phóng Giáo hội khỏi sự kiểm soát của giáo dân. Không phải ngẫu nhiên mà chính Đức Grê-go-ri-ô VII, cũng như những người kế nhiệm năng động của ngài là Ur-ba-nô II và Pas-can II, đều là một đan sĩ Cluny.

Thành công của cuộc cải cách Cluny là nhờ sự nhất quán mà các nhà lãnh đạo của nó nhấn mạnh vào việc tuân thủ nghiêm ngặt Quy tắc của Thánh Bê-nê-đic-tô, với lối sống khổ hạnh vừa phải: giữ im lặng trong nhà thờ và tu viện, loại bỏ thịt khỏi chế độ ăn uống và xóa bỏ tài sản tư nhân. Tuy nhiên, theo thời gian, các đan sĩ đã sở hữu những vùng đất rộng lớn, mà họ đã trang hoàng bằng những công trình kiến trúc tráng lệ.

Một sự tầm thường về mặt tâm linh bắt đầu xuất hiện, và một nhóm cải cách mới nổi lên trong dòng tu, những người không hài lòng với sự xa hoa ngày càng tăng. Dưới sự dẫn dắt của Robert, viện phụ của Molesmes, họ di cư vào năm 1098 đến Cîteaux, một vùng đất hoang vắng thuộc giáo phận Châlons ở Pháp. Cuộc di cư này đánh dấu sự khởi đầu của một dòng tu mới, dòng Xitô, mà vị viện phụ thứ ba và người sáng lập thực sự là một vị thánh và nhà thần bí người Anh, Stephen Harding (mất năm 1134), một đan sĩ kết hợp tài năng quản lý xuất chúng với lòng yêu mến sự nghèo khó mãnh liệt. Nhưng sự kiện quyết định trong lịch sử của đan viện là sự xuất hiện tại Cîteaux năm 1113 của Bernard, một quý tộc tài giỏi hai mươi hai tuổi, người đã mang theo một nhóm ba mươi môn đệ, trong đó có cả anh em ruột của mình. Ba năm sau, chính ngài đã thành lập tu viện con Clairvaux và giữ chức vụ viện phụ cho đến khi qua đời năm 1153. Từ đó trở đi, với tư cách là nhà thuyết giáo, tác giả và người dẫn dắt tâm hồn, ngài là động lực chính đằng sau sự phục hưng tâm linh của thế kỷ thứ mười hai, đồng thời là một trong những chính khách lỗi lạc nhất thời bấy giờ.

Dưới ảnh hưởng của những nhà lãnh đạo như vậy, các tu sĩ dòng Xitô mặc áo trắng và đen nhanh chóng đạt được vị thế ảnh hưởng vô song trong Giáo hội nói chung. Đến năm 1120, họ tiến vào Ý, năm 1123 đến Đức, năm 1128 đến Anh, năm 1132 đến Tây Ban Nha, và năm 1142 đến Ái Nhĩ Lan, Ba Lan và Hung Gia Lợi. Theo thời gian, hơn sáu trăm đan viện đã tuyên thệ trung thành với Cîteaux.

Hiến pháp của họ, do Stephen Harding soạn thảo, nhấn mạnh sự giản dị thanh giáo và nghèo khó cùng cực, đồng thời tạo ra sự cân bằng giữa tính tập trung cực đoan của Cluny và quyền tự trị địa phương của dòng Bê-nê-đic-tô truyền thống. Mỗi đan viện với viện phụ của mình đều nằm dưới sự giám sát trực tiếp của đan viện mẹ hoặc đan viện sáng lập, trong khi đan viện mẹ có quyền tài phán tương tự đối với các đan viện được nó thành lập. Một đặc điểm dân chủ nhất định được cung cấp bởi các hội nghị hoặc đại hội hàng năm, tập hợp các viện phụ và đại diện của tất cả các đan viện; họ có quyền phế truất viện phụ của Cîteaux và do đó có thể kiềm chế bất cứ khuynh hướng độc đoán nào từ phía viện phụ đứng đầu.

Thí nghiệm của dòng Xi-tô cũng ảnh hưởng đến một phong trào cải cách trong hàng giáo sĩ giáo xứ vào thế kỷ thứ mười hai. Nổi bật nhất trong số các phong trào này là của dòng Premonstratensian, được thành lập bởi Thánh Norbert (mất năm 1134), một người bạn của Thánh Bernard. Vay mượn nhiều từ hệ thống dòng Xitô trong khi dựa trên quy tắc của Thánh Au-gus-ti-nô, họ nhanh chóng lan rộng đến hầu hết các quốc gia ở châu Âu.

Xu hướng đan viện và khổ hạnh tìm thấy một hình thức biểu lộ khác trong các dòng của các đan sĩ ẩn tu, những người, rời bỏ Quy tắc Bê-nê-đic-tô tiêu chuẩn, chọn sống ẩn dật, chỉ tham gia vào đời sống cộng đồng ở mức tối thiểu. Ví dụ, Thánh Romuald (mất năm 1027) đã cư ngụ trên một ngọn núi hoang vắng ở Camaldoli, Ý cùng với một vài huynh đệ và dành thời gian cầu nguyện và suy niệm trong im lặng, sống trong cảnh nghèo khó cùng cực. Điều này đã phát triển thành dòng Camaldolese, được Giáo hoàng phê chuẩn vào năm 1072. Lý tưởng tương tự về sự cô lập hoàn toàn khỏi thế giới và nghèo khó tuyệt đối đã được người sáng lập dòng Carthusian, Bruno, một người gốc Cologne, chấp nhận. Ngài đã định cư tại vùng núi hoang vu La Chartreuse gần Grenoble, Pháp vào năm 1084. Các tu sĩ dòng Carthusian đã đẩy sự khổ hạnh đến giới hạn chịu đựng của con người, với những kỳ ăn chay dài ngày và chế độ ăn gần như chỉ toàn rau củ. Do đó, sự phát triển của họ khá chậm, nhưng đến thế kỷ thứ mười lăm, họ đã có khoảng 150 đan viện. Cho đến ngày nay, họ vẫn kiên trì trung thành với lý tưởng ban đầu mà không cần cải cách, một trường hợp độc nhất vô nhị trong lịch sử các dòng tu.

Lý tưởng của các dòng tu là hoàn toàn tách biệt khỏi thế gian. Tuy nhiên, một loại hình dòng tu mới đã xuất hiện vào thế kỷ thứ mười ba, với mục đích theo đuổi lý tưởng đơn tu về sự từ bỏ, nghèo khó và hy sinh bản thân trong khi vẫn sống giữa thế gian để cải hóa thế gian bằng gương mẫu và lời rao giảng. Những người này được gọi là các tu sĩ, từ tiếng La-tinh fratres, nghĩa là anh em. Họ cũng được gọi là các dòng tu khất thực vì thói quen xin ăn để nuôi sống bản thân. Họ chủ yếu được đại diện bởi các dòng Phan-xi-cô, Đa Minh, Các-men và Au-gus-ti-nô. Một phần, sự xuất hiện của các dòng tu khất thực là phản ứng bản năng trước những điều kiện xã hội mới do sự trỗi dậy của các thành phố, sự hồi sinh của thương mại và sự gia tăng dân số gây ra. Sự dịch chuyển dân số từ nông thôn ra thành thị đặt ra một vấn đề lớn cho Giáo hội, vốn có những cấu trúc lâu đời hướng về xã hội nông thôn, phong kiến cũ. Giáo hội đứng trước nguy cơ mất liên lạc với quần chúng đã rời bỏ các giáo xứ nông thôn và hiện đang sống trong các khu ổ chuột tập trung bên ngoài các bức tường thành thời trung cổ. Các dòng tu khất thực đã chứng tỏ là một ơn trời ban trong công cuộc truyền giáo đô thị mới.

Nguồn gốc của họ có thể bắt nguồn từ Thánh Phan-xi-cô As-si-si, sinh năm 1181 hoặc 1182, con trai của một thương gia buôn vải giàu có; ngài là một thanh niên hào phóng, thi sĩ, nhiệt huyết, mơ ước thực hiện những chiến công hiển hách của hiệp sĩ. Nhưng sau một sự nghiệp ngắn ngủi đầy thất vọng với tư cách là một người lính, ngài thấy mình bị thu hút mãnh liệt bởi Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô và quyết định hoàn toàn hiến dâng mình cho Chúa. Ngài hiểu lời Chúa Giê-su theo nghĩa đen, và từ bỏ mọi tài sản, lên đường chân trần và không một xu dính túi để rao giảng sự ăn năn và một thông điệp giản dị về lòng tin tưởng vào Chúa và niềm vui duy nhất trong sự kỳ diệu của lòng tốt của Chúa. Đám đông lắng nghe Thánh Phan-xi-cô ngày càng đông, và một vòng tròn các môn đệ hình thành xung quanh ngài. Ngài soạn thảo một quy tắc đơn giản cho những “anh em” này và mang trình cho Đức Giáo Hoàng In-nô-cen-tê III, người miễn cưỡng chấp thuận bằng lời nói.

Dòng tu mới, được gọi là các Anh em Hèn mọn, tiếp tục nhân lên và nhanh chóng lan rộng khắp châu Âu.

Xác nhận Quy tắc của Thánh Phan-xi-cô. Tranh tường từ Cuộc đời Thánh Phan-xi-cô. Giotto di Bondone (1266–1336). Nhà thờ San Francesco, Assisi, Ý. © Scala/Art Resource, New York.


Quy tắc đơn giản do Thánh Phan-xi-cô soạn thảo hầu như chỉ chứa một vài câu trích dẫn yêu thích của ngài từ Tin Mừng về tình yêu thương và sự nghèo khó. Tuy nhiên, những người tỉnh táo nhận ra rằng cần một hiến pháp thực tế và mang tính đâu ra đó hơn nếu dòng tu muốn sống còn. Đức Giáo Hoàng Hô-nô-ri-ô (mất năm 1227) đồng tình, và Hồng Y Ugolino—người nhận ra tiềm năng to lớn của phong trào—đã giúp soạn thảo một quy tắc cung cấp một vền quản trị thực tiễn và có trật tự hơn cho hàng ngàn người đang tham gia. Nhưng Thánh Phan-xi-cô ngày càng đau khổ khi nhìn thấy sự biến đổi khắc nghiệt và cứng ngắc theo luật lệ đối với giấc mơ cả đời mình. Trong Di chúc, được viết ngay trước khi ngài qua đời năm 1226, ngài đã bày tỏ sự phản đối đầy tiếc nuối và cố gắng kêu gọi dòng tu trở lại với Thục Nữ Nghèo đáng yêu của mình. Nhưng sau khi ngài qua đời, Di chúc đã bị vô hiệu hóa và các tu sĩ được phép sở hữu đất đai và tài sản nhờ những thủ đoạn pháp lý. Tuy nhiên, một nhóm bất đồng chính kiến thường trực—những nhà theo phái Tâm linh [Spirituals]—vẫn kiên trì đòi hỏi sự trở lại với lý tưởng của Thánh Phan-xi-cô và tham gia vào những cuộc tranh luận gay gắt và thường xuyên gay gắt với những người theo phái Viện Tu [Conventuals]—phe tin vào việc điều chỉnh lý tưởng cho phù hợp với điều kiện mới.

Dòng tu lớn khác, dòng Đa Minh, được thành lập bởi Thánh Đa Minh thành Guzman (mất năm 1221), con trai của một quý tộc Castilia, trong nỗ lực cải đạo những người dị giáo Albigensian. Nhờ tình bạn với Hồng Y Ugolino, ngài đã có cơ hội gặp gỡ Thánh Phan-xi-cô và rất ấn tượng bởi sự tận tâm với đời sống nghèo khó của ngài. Ngài đã đưa ý tưởng này vào quy tắc cho dòng tu mới của mình, chủ yếu dựa trên Quy tắc cũ của Thánh Au-gus-ti-nô. Tuy nhiên, không giống như Thánh Phan-xi-cô, Thánh Đa Minh nhấn mạnh sự cần thiết của việc đào tạo trí thức để đảm bảo sự thành công trong việc rao giảng của các tu sĩ. Và cho đến ngày nay, cả hai dòng tu vẫn giữ được phần nào tinh thần của những người sáng lập: Các tu sĩ Đa Minh có xu hướng là những nhà thuyết giáo và nhà văn uyên bác, chính thống, trong khi các tu sĩ dòng Phan-xi-cô có nhiều khả năng là những nhà hoạt động, thậm chí là những người cấp tiến, với một chút vui vẻ của Thánh Phan-xi-cô.

Cùng với các dòng Các-men và Au-gus-ti-nô ít đông đảo hơn, cũng xuất phát từ thời kỳ này, các dòng tu khất thực này trực thuộc Giáo hoàng và chứng tỏ là những người trợ giúp hiệu quả nhất của ngài trong việc giải quyết sứ mệnh tông đồ đô thị mới của thế kỷ XIII. Họ là những người lãnh đạo tư tưởng và học thức quan trọng nhất của Giáo hội thời Trung cổ; họ là những nhà thuyết giáo hiệu quả nhất; họ xuất sắc trong vai trò người giải tội và là những người chịu trách nhiệm chính trong việc biến việc xưng tội trở thành một phần quan trọng của lòng đạo đức Công Giáo; họ cũng là những nhà truyền giáo xuất sắc đến các vùng đất xa lạ.

Câu chuyện về Thánh Domenico di Guzman: Vụ đốt sách. Pedro Berruguete (1450–1504). Bảo tàng Prado, Madrid. © Scala/Art Resource, New York.


Các giám mục, linh mục, đan sĩ, tu sĩ, nữ tu, nhìn chung họ là những người được giáo dục tốt nhất, có học thức nhất và được kính trọng nhất trong xã hội thời Trung cổ trong thời kỳ Giáo hội đi lên, và họ chiếm tỷ lệ dân số lớn hơn nhiều so với ngày nay. Số lượng đông đảo của họ cho phép Giáo hội cống hiến hết mình cho một loạt các dịch vụ xã hội, tạo thành một loại Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi. Sự quan tâm của Giáo hội đối với những người bất hạnh tập trung vào các bệnh viện, mà vào thời đó không chỉ giới hạn ở việc chăm sóc người bệnh mà còn phục vụ tất cả các loại người nghèo khó. Như vậy, nó là hậu duệ của các hospitium (nhà ở cho người nghèo) của giám mục thế kỷ thứ năm, người được Giáo luật yêu cầu phải dành một phần nhất định thu nhập của giáo phận cho người nghèo—một điều khoản mà ngài đã thực hiện phần lớn bằng cách tài trợ cho các hospitium hay nhà dành cho người nghèo. Giám mục thời trung cổ đã tiếp tục truyền thống này. Khi tấn phong, ngài được hỏi liệu ngài có thể hiện lòng tốt đối với người nghèo, người lạ và tất cả những người cần giúp đỡ hay không. Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ này bằng cách thành lập và hỗ trợ các bệnh viện—không chỉ gần nhà thờ chính tòa của mình mà còn ở các thị trấn khác trong toàn giáo phận. Vào thế kỷ XIV, các ghi chép cho thấy có tám bệnh viện ở Canterbury, mười bảy ở London và mười tám ở York, cung cấp thức ăn và chỗ ở cho người nghèo. Một số bệnh viện chuyên biệt: Ví dụ, chúng có thể được dành riêng để cứu trợ những người Do Thái sau khi cải đạo không còn kiếm được tiền bằng cách cho vay nặng lãi; hoặc họ chăm sóc người điên (điều này chỉ có từ thế kỷ thứ mười bốn) hoặc người mắc bệnh phong. Chỉ đến khi bắt đầu trận dịch Chết Đen (Black Death] (khoảng năm 1350) thì các bệnh viện thông thường mới bắt đầu chú tâm chủ yếu vào việc chăm sóc người bệnh.

Cùng nhịp với sự thăng tiến thực sự của Giáo hội so với xã hội, các nhà thần học và triết học của Giáo hội đã phát triển một lý thuyết xã hội coi toàn bộ trật tự xã hội như một phẩm trật hữu cơ, qua đó mọi hoạt động thế tục của con người đều được sắp đặt để phục vụ các mục tiêu tôn giáo và siêu nhiên của họ như những phương tiện để đạt được mục đích. Mỗi người được số phận bí ẩn định đoạt một vị trí cao hơn hoặc thấp hơn, và mỗi giai cấp đều đóng góp vào sự vận hành của toàn bộ cơ thể. Lý thuyết này hầu như không để lại chỗ cho những ý tưởng về sự thay đổi hay cải cách xã hội; điều kiện xã hội đơn giản là một điều đã được định sẵn. Nhiệm vụ của mỗi người là sống xứng đáng với ơn gọi mà Chúa đã ban cho và duy trì vị trí trong cuộc sống mà họ được sinh ra. Phúc lợi xã hội phụ thuộc vào việc mỗi giai cấp thực hiện các chức năng và hưởng các quyền tương xứng với nó. Tất cả những khía cạnh xấu xí và bất hòa của các mối quan hệ xã hội—bạo lực, bất công, chiến tranh, nghèo đói, chế độ nông nô và đau khổ—đều được coi là kết quả của tội lỗi và do đó là một phần vĩnh viễn trong cuộc hành trình của con người trên trái đất này. Điều duy nhất mà người Kitô hữu có thể làm là giảm bớt nỗi đau khổ của từng cá nhân một cách tốt nhất có thể.

Trong khuôn khổ hạn chế này, các nhà thần học vĩ đại của Giáo hội đã xây dựng một hệ thống đạo đức để cung cấp câu trả lời cho mọi câu hỏi đạo đức có thể tưởng tượng được. Để làm như vậy, họ dựa trên Kinh Thánh, Luật Tự nhiên (được định nghĩa là những chỉ dẫn của lý trí con người trong chừng mực nó quy định các hành động phù hợp với mục đích của mỗi năng lực hoặc khả năng của con người), và trên thẩm quyền thần thiêng của Giáo hội, đặc biệt là được phản ánh trong các chỉ thị của Giáo hoàng.

Các nhà thần học thời trung cổ thậm chí còn dám khẳng định rằng các hoạt động kinh tế của con người phải tuân theo luật đạo đức. Trên thực tế, theo quan điểm thời trung cổ, doanh nhân bị coi là có tội cho đến khi được chứng minh vô tội, vì việc theo đuổi lợi nhuận vì lợi nhuận của họ bị các giáo sĩ nghi ngờ rất nhiều, họ coi đó là lòng tham lam đơn thuần - tội lỗi nguy hiểm nhất trong tất cả các tội lỗi. Do đó, Giáo hội đã nỗ lực hết sức để đưa ngay cả lòng tham kinh tế vào khuôn khổ luật pháp của mình. Lệnh cấm cho vay nặng lãi (được định nghĩa là lấy lãi chỉ vì hành động cho vay) liên tục được nhắc lại, với sự nhấn mạnh lớn. Công đồng Lyon (1274) đã bổ sung lệnh cấm cơ bản bằng các quy tắc gần như biến người cho vay tiền thành kẻ ngoài vòng pháp luật. Công đồng Vienne (1312) thậm chí còn tiến xa hơn, bằng cách ra lệnh bãi bỏ tất cả luật dân sự cho phép cho vay nặng lãi. Nhưng như Richard Tawney đã chỉ ra, điểm chính và điều khiến nhiều người ngày nay lo lắng về chủ nghĩa vị kỷ kinh tế do chủ nghĩa tư bản nuôi dưỡng là “sự khẳng định của các nhà tư tưởng thời trung cổ rằng xã hội là một sinh vật tinh thần, chứ không phải là một cỗ máy kinh tế, và hoạt động kinh tế, vốn là một yếu tố phụ thuộc trong một thể thống nhất rộng lớn và phức tạp, cần được kiểm soát và kiềm chế dựa trên các mục đích đạo đức mà nó cung cấp các phương tiện vật chất.” (57)

Giáo hội tuyên bố hôn nhân, gia đình và tất cả những gì liên quan đến nó là phạm vi đặc biệt của mình. Giáo hội duy trì sự thống nhất và bất khả phân ly của hôn nhân và cố gắng thiết lập trật tự trong lĩnh vực tình dục. Giáo hội tiếp tục lên án phá thai và giết trẻ sơ sinh là những tội ác ghê tởm và trừng phạt nghiêm khắc những người phạm tội. Giáo hội nhấn mạnh đến quyền con người và phẩm giá của phụ nữ, mặc dù thật không may, các giáo sĩ độc thân của Giáo hội thường rơi vào thái độ khinh miệt gần như cuồng loạn đối với mọi thứ thuộc về nữ giới.

Một Giáo hội khao khát thống trị hoàn toàn một nền văn hóa cần phải biết cách thỏa hiệp với những đòi hỏi triệt để của Tin Mừng. Có lẽ điều này thể hiện rõ nhất trong vấn đề chiến tranh. So với các Kitô hữu phương Đông, những người có lập trường chống chiến tranh nhìn chung nhất quán, Kitô giáo phương Tây dường như kém sáng suốt hơn nhiều. Các cuộc xâm lược của người man rợ và điều kiện của xã hội phong kiến đã biến chiến tranh thành một thực tế thường trực; các giáo sĩ đã cố gắng hướng năng lực hiếu chiến này phục vụ cho mục đích riêng của Giáo hội. Chiến tranh thánh phục vụ Giáo hội được coi là cho phép và thậm chí là đáng mong muốn. Các Giáo hoàng thậm chí còn dẫn quân ra trận và xếp các nạn nhân của chiến tranh thánh là những người tử đạo.

Tuy nhiên, một phong trào hòa bình đã bắt đầu ở Pháp vào thế kỷ thứ mười tại Công đồng Charroux năm 989, nơi các giám mục Aquitaine đề xuất Hòa bình của Chúa, cấm chiến tranh chống lại giáo sĩ, phụ nữ, người nghèo và những người không có khả năng tự vệ. Một loạt các công đồng Giáo hội đã diễn ra sau đó ở Pháp, quy định các lời thề mà giới quý tộc phải thực hiện để hạn chế khuynh hướng gây chiến của họ. Sau đó, các Liên minh Hòa bình được thành lập—liên minh đầu tiên do tổng giám mục Bourges thành lập năm 1038—cam kết các thành viên sẽ cầm vũ khí nếu cần thiết để trấn áp những kẻ gây chiến. Người ta cho rằng chỉ riêng trong một cuộc chiến vì hòa bình như vậy đã có tới bảy trăm giáo sĩ thiệt mạng. Một biện pháp thực tế hơn là Hiệp ước Đình chiến của Chúa vào thế kỷ thứ mười một, một phong trào được Giáo hội khởi xướng. Hiệp ước này cấm mọi cuộc chiến tranh vào các ngày lễ, trong Mùa Chay, Mùa Vọng và các lễ hội đặc biệt khác. Vi phạm sẽ dẫn đến việc bị vạ tuyệt thông ngay lập tức.

Giáo hội vẫn dạy cho đến tận thế kỷ thứ mười một rằng giết người trong trận chiến là một tội trọng. Chiến tranh chỉ được sử dụng cho mục đích thế tục. Và mặc dù Trận Hastings năm 1066 được Giáo hoàng chấp thuận, những người chiến thắng vẫn phải chịu những hình phạt nặng nề vì những cái chết mà họ gây ra. Một thời gian sau, các nhà thần học đã khôi phục lại lý thuyết "chiến tranh chính nghĩa" của Thánh Au-gus-ti-nô, cho phép các nhà cai trị thế tục được hưởng lợi từ sự nghi ngờ trừ khi họ hành động chống lại lợi ích của Giáo hoàng. Và vì vậy, trên thực tế, rất khó để các giáo sĩ tuyên bố rằng bất cứ cuộc chiến nào được chấp thuận đúng cách là bất chính.

Chính trong bối cảnh này, chúng ta phải cố gắng hiểu các cuộc Thập tự chinh, một biểu thức rất đáng chú ý của tư duy thời trung cổ. Đức Giáo Hoàng Ur-ba-nô II đã khởi xướng chúng vào năm 1095, và trong suốt lịch sử lâu dài của mình, chúng vẫn chủ yếu là một công trình của vị Giáo hoàng. Đức Ur-ba-nô đã phát biểu trước các hiệp sĩ Kitô giáo có mặt tại Hội nghị Clermont năm đó và kêu gọi họ hướng tinh thần chiến đấu của mình vào một mục đích hữu ích hơn bằng cách giải cứu Thánh địa khỏi những người Hồi giáo ngoại đạo. Dưới sức hút thôi miên của tài hùng biện xuất chúng của vị Giáo hoàng và lời hứa về phần thưởng vĩnh cửu cho những người hy sinh vì chính nghĩa, các hiệp sĩ đã đồng thanh đáp lại: “Chúa muốn vậy”; họ khâu những cây thánh giá đỏ lên áo choàng và ngay lập tức lên kế hoạch cho cuộc viễn chinh.

Cũng như hầu hết các phong trào lớn trong lịch sử, một loạt các động cơ và hoàn cảnh đã đóng vai trò trong sự hình thành của các cuộc Thập tự chinh. Người Norman, người Ý và người Pháp đã chủ động tấn công người Hồi giáo và giành quyền kiểm soát phía tây Địa Trung Hải từ tay họ; giờ đây họ đã sẵn sàng hướng về phía Đông. Cuộc cải cách giáo hoàng dưới thời Hildebrand có nghĩa là người dân giờ đây coi Giáo hoàng là người đứng đầu Thế giới Kitô giáo và sẵn sàng tuân theo sự lãnh đạo của ngài. Những câu chuyện về sự đối xử khắc nghiệt đối với những người hành hương Kitô giáo đến Giê-ru-sa-lem dưới tay những kẻ ngoại đạo cũng lan truyền, làm dấy lên dư luận phương Tây. Hoàng đế Đông Rô-ma, A-léc-xi-ô, đã cầu cứu Đức Ur-ba-nô giúp đỡ trong việc giành lại lãnh thổ Byzantine ở Tiểu Á từ tay người Thổ Nhĩ Kỳ, trong khi Đức Ur-ba-nô nhìn thấy cơ hội để thống nhất Kitô giáo Đông và Tây dưới sự lãnh đạo của Giáo hoàng. Một trong những yếu tố quan trọng nhất là tính cách năng động của chính Đức Ur-ba-nô, người có nguồn năng lực phi thường và khả năng tổ chức tuyệt vời, góp phần rất lớn vào thành công ban đầu của phong trào.

Một loạt các động cơ đã truyền cảm hứng cho những hiệp sĩ gan dạ: tình yêu phiêu lưu, lòng sùng kính Chúa Kitô và khát vọng chiếm đất. Dưới sự lãnh đạo của các vị như Hugh xứ Vermandois, Raymond xứ Toulouse, Godfrey xứ Bouillon, Robert xứ Flanders, Stephen xứ Blois, Bohemond xứ Taranto và sứ thần của Giáo hoàng, Adhemar xứ Puy, quân đội Thập tự chinh đã tập hợp tại Cons-tan-ti-nốp vào tháng 5 năm 1097; họ thề trung thành với Hoàng đế A-léc-xi-ô và sau đó chiếm được kinh đô Ni-xê-a của người Hồi giáo. Một trong những sử thi vĩ đại của lịch sử quân sự đã diễn ra khi các hiệp sĩ mặc áo giáp và bộ binh dũng mãnh hành quân khắp Tiểu Á, chống lại các cuộc tấn công của kỵ binh Thổ Nhĩ Kỳ mặc dù phải chịu đựng sự thiếu thốn lương thực, nước uống và cái nóng khắc nghiệt. Sau bốn tháng, họ đến An-ti-ô-ki-a và bao vây thành phố này. Tại đó, vào ngày 28 tháng 6 năm 1098, họ đã giành được chiến thắng quyết định, quyết định kết quả thành công của Cuộc Thập tự chinh thứ nhất.

Vào ngày 7 tháng 6 năm 1099, đội quân mười hai nghìn người của họ—khoảng một nửa số người bắt đầu cuộc hành quân xuyên Tiểu Á—đã đến được những bức tường thành kiên cố của Giê-ru-sa-lem. Trong cuộc tấn công thứ hai, thành phố thất thủ, và vào ngày 1 tháng 7, những người chiến thắng đã trút hết cảm xúc của mình trong Nhà thờ Mộ Thánh và sau đó đổ máu bừa bãi lên cư dân—người Hồi giáo và người Do Thái, đàn ông, phụ nữ và trẻ em.

Mặc dù đã thề trung thành với A-léc-xi-ô, quân Thập tự chinh chỉ hình thành một liên minh lỏng lẻo, chỉ thống nhất bởi lòng trung thành không rõ ràng với Giáo hoàng và sứ thần của ngài, Adhemar, nhưng lại bị chia rẽ bởi những mối thù hận và sự ganh đua bản thân. Một đòn giáng mạnh vào ngay cả sự thống nhất mong manh này đã xảy ra khi Adhemar, người đáng mến và khéo léo, qua đời trong một dịch bệnh sau chiến thắng tại An-ti-ô-kia. Sự chia rẽ tiếp tục là đặc điểm nổi bật trong lịch sử của vương quốc La Tinh Giê-ru-sa-lem và các thái ấp trên lý thuyết thuộc quyền cai trị của nó ở Syria—tỉnh hạt Tri-pô-li, tỉnh hạt Ê-đes-sa và công quốc An-ti-ô-ki-a. Một tai họa nghiêm trọng khác là việc quân Thập tự chinh không chiếm được các thành phố quan trọng như Đa-mát, Ê-mê-sa, Ha-ma và A-lep-po. Khi người Hồi giáo cuối cùng thống nhất, họ bắt đầu cuộc tái chinh phục từng phần mà ngay cả cuộc Thập tự chinh thứ hai (1147) cũng không thể ngăn chặn được. Chiến thắng vang dội của Saladin tại Hattin năm 1187 và việc ông chiếm được Giê-ru-sa-lem đã đạt đến đỉnh điểm của cuộc tái chinh phục. Cả cuộc Thập tự chinh thứ ba (1189–1192) và tất cả các cuộc thập tự chinh tiếp theo cũng không thể khôi phục lại quyền bá chủ của người La Tinh ở Cận Đông.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các cuộc Thập tự chinh đã đóng góp rất nhiều vào sự phát triển của thời đại: sự trỗi dậy của thương mại và các thành phố, ý thức dân tộc ngày càng tăng, sự mở rộng chân trời trí thức và sự gia tăng uy tín của Giáo hoàng. Nhưng trong tất cả những trường hợp này, ảnh hưởng của chúng đều không mang tính quyết định. Chẳng hạn, thị hiếu đối với gia vị phương Đông, lụa và đồ kim loại đã được kích thích bởi hoạt động thương mại phát triển độc lập với các cuộc Thập tự chinh; hiệu quả của các cuộc Thập tự chinh đối với sự phát triển thương mại không quan trọng như người ta đôi khi giả dụ. Có lẽ tác động quan trọng nhất của họ là làm chậm bước tiến của người Thổ Nhĩ Kỳ vào vùng Balkan trong ba trăm năm.

Chân dung Saladin (1138–1193), sultan của Ai Cập. Vô danh. Bảo tàng Uffizi, Florence. © SEF/Art Resource, New York.


Như chúng ta có thể thấy từ khảo sát ngắn gọn này, ảnh hưởng của Giáo hội đối với xã hội thời trung cổ là sâu sắc. Giáo hội hiện diện trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Dưới sự lãnh đạo của các Giáo hoàng, các linh mục, đan sĩ, thầy dòng và nữ tu, những người là tầng lớp tinh thần ưu tú của xã hội thời trung cổ, đã không ngừng nỗ lực để gieo rắc đức tin vào quần chúng mù chữ, để cho họ ít nhất một cái nhìn thoáng qua về chân lý và điều tốt đẹp vượt ra ngoài thực tế khắc nghiệt của cuộc sống bó hẹp của họ. Nhưng họ đã thành công đến mức nào? Tin Mừng có thâm nhập sâu hơn bề mặt của cuộc sống thời trung cổ không? Liệu nó có bị bóp méo trong quá trình truyền bá đến quần chúng không? Đây là những câu hỏi gần như vượt ra ngoài ranh giới của khoa học lịch sử. Nhưng có lẽ một số đánh giá có thể được đưa ra. Không còn nghi ngờ gì nữa, Giáo hội đã phải thỏa hiệp rất nhiều trong việc điều chỉnh thông điệp của người sáng lập cho phù hợp với những đòi hỏi của một xã hội phong kiến. Những cuộc thánh chiến man rợ, chủ nghĩa bài Do Thái thô thiển, Tòa án dị giáo đẫm máu và việc truy lùng phù thủy, đủ để cho thấy sự thỏa hiệp có thể đi xa đến mức nào. Nhưng đồng thời, khát vọng cải cách cũng không bao giờ vắng mặt. Luôn luôn có một dòng chảy tiên tri phê phán định chế và mong muốn dẫn dắt Giáo hội và xã hội đến sự trung thành hơn với những đòi hỏi của Tin Mừng như chúng được hiểu vào thời điểm đó. Người ta chỉ cần nghĩ đến những phong trào như Cluny, dòng Xi-tô và dòng Phan-xi-cô để thấy rõ điều này. Và người ta có thể đồng ý với kết luận của một nghiên cứu gần đây của Francis Oakley, “... bởi vì bất kể sự man rợ, sự tha hóa, sự biến dạng, bất kể sự né tránh và sự bất trung thực của nó, trong Giáo hội thời trung cổ, dường như đàn ông và phụ nữ vẫn tìm cách gặp gỡ Tin Mừng.” (58).