Francis X. Maier, trong bản tin ngày 9 tháng 9 năm 2026 của The Catholic Thing, cho biết: Trong ba năm thuộc quãng thời gian 27 năm làm việc cho giáo phận, tôi kiêm nhiệm công tác phụ trách các vấn đề đại kết và liên tôn. Đó là một công việc tuyệt vời. Chúng tôi có mối quan hệ tốt đẹp với các cộng đồng Tin Lành và Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (Latter-Day Saints) tại địa phương; có những cuộc thảo luận thân tình với các giáo sĩ Do Thái (rabbis); và tình bạn cá nhân với các nhà lãnh đạo Chính thống giáo Hy Lạp cũng như Ủy ban Do Thái Hoa Kỳ.

Với Hồi giáo, câu chuyện lại khác. Qua nhiều năm, chúng tôi chỉ có tổng cộng hai lần tiếp xúc: một lá thư từ một vị imam (lãnh đạo tôn giáo Hồi giáo) tại địa phương khăng khăng đòi chúng tôi phải trở lại đạo, và một chuyến ghé thăm của một vị imam trẻ tuổi – người từng là tín hữu Công Giáo – rất hăng hái giải thích rằng mọi điều tốt đẹp trong Kitô giáo thực ra đều bắt nguồn từ Hồi giáo, tôn giáo được cho là mang mặc khải thần linh nguyên thủy. Tiếc thay cho ông ấy, ông đã chọn nhầm đối tượng để thuyết phục.

Tôi nhắc đến chuyện này vì một lý do. Cũng trong những năm tháng đó, tôi nhớ có ít nhất một buổi tối ngồi nghe bài thuyết trình tại giáo xứ về ba tôn giáo thuộc truyền thống Abraham. Trong buổi đó, người phụ trách giáo dục tôn giáo của giáo xứ, dù với thiện chí cao nhất, đã nhiều lần so sánh "Kinh Thánh" với "Kinh Qur'an". Sau đó, tôi phải thực hiện một nhiệm vụ tế nhị là giải thích rằng, theo đức tin Kitô giáo, Kinh Thánh là sách thánh và được Thiên Chúa linh hứng. Còn Kinh Qur'an – bất kể có những yếu tố tuyệt đẹp nào đi nữa – thì không phải như vậy.

Người Kitô hữu không công nhận Muhammad là một ngôn sứ đích thực. Hồi giáo cũng không phải là sản phẩm của mặc khải thần linh, chứ đừng nói đến mặc khải nguyên thủy. Và ba tôn giáo thuộc truyền thống Abraham – như Rémi Brague, Jacques Ellul và nhiều người khác đã nhận định – có những điểm khác biệt sâu sắc hơn nhiều so với những điểm tương đồng.

Nói một cách đơn giản, đối thoại liên tôn – bao gồm cả đối thoại với Hồi giáo – là một mục tiêu đáng trân trọng. Tuy nhiên, tinh thần hòa giải mơ hồ, thiếu sáng suốt sẽ chẳng mang lại lợi ích gì cho sự thật hay sự hiểu biết lẫn nhau lành mạnh.

Brague, triết gia Công Giáo kiêm chuyên gia nghiên cứu Ả Rập lỗi lạc người Pháp, đã mô tả những giới hạn của cuộc đối thoại giữa Kitô giáo và Hồi giáo như sau:

Đối với Hồi giáo, sự tồn tại của tôn giáo Kitô giáo là một điều lỗi thời, nghịch lý với dòng chảy lịch sử. Hồi giáo tự giới thiệu mình... như Kitô giáo đích thực; bởi lẽ, theo tư tưởng Hồi giáo, người Kitô hữu đã làm biến dạng Tin Mừng nguyên thủy, cũng giống như người Do Thái trước đó đã phản bội lại Luật Torah đích thực. Do đó, việc viện dẫn Kinh Thánh chung là điều không thể thực hiện được. Điều này có nghĩa là, từ quan điểm của người Hồi giáo, "cuộc đối thoại Hồi-Kitô giáo" là cuộc đối thoại giữa những Kitô hữu đích thực (tức là chính người Hồi giáo) và những người tự cho mình là Kitô hữu đích thực nhưng thực tế lại không phải vậy. Đây là lý do tại sao cuộc đối thoại này thu hút sự quan tâm của người Kitô giáo nhiều hơn là người Hồi giáo.

Trên thực tế, sự thiếu hiểu biết và thái độ thờ ơ kéo dài của người Hồi giáo đối với nội dung thực sự của Kitô giáo có thể khiến người ta kinh ngạc. Bernard Lewis, học giả Do Thái lỗi lạc chuyên nghiên cứu về văn minh Hồi giáo, đã ghi nhận rằng qua nhiều thế kỷ và cho đến tận thời hiện đại, đa số người Hồi giáo vẫn tin rằng "Tam Vị Nhất Thể — một tín lý mà Hồi giáo lên án là sự phạm thượng gần như đa thần giáo — [bao gồm] Thiên Chúa, Chúa Giêsu và Đức Maria."

Kiếm cong (scimitar) và vỏ kiếm, cuối thế kỷ 16 – đầu thế kỷ 17 [Bảo tàng MET, New York]


Hầu hết người Kitô giáo đều biết rằng họ không am hiểu về Hồi giáo. Nhưng điều ngược lại thì không đúng. Đa số người Hồi giáo thường cho rằng họ đã biết mọi điều cần biết về Kitô giáo vì Kinh Qur'an có đề cập đến người Kitô giáo. Kết quả là tạo ra một hố ngăn cách không thể san lấp, xuất phát từ tuyên bố của Hồi giáo rằng họ là tôn giáo khởi nguyên và là sự mặc khải thần thiêng thuần khiết duy nhất, thay thế cho tất cả các tôn giáo khác.

Những điều này không nhất thiết ngăn cản các nỗ lực chân thành nhằm đạt được sự tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau. Tuy nhiên, nó cần loại bỏ sự ngây thơ nơi người Kitô giáo. Người Công Giáo đọc Kinh Tin Kính Ni-xê-a trong mỗi Thánh lễ Chúa Nhật. Đó là bản tuyên ngôn nền tảng cho đức tin của chúng ta. Suốt 17 thế kỷ qua, biết bao người đã hy sinh tính mạng để bảo vệ tín lý này. Ngoại trừ dòng đầu tiên, Hồi giáo bác bỏ mọi yếu tố cốt lõi của văn bản này.

Về mặt lịch sử, trong các nền văn hóa do người Hồi giáo thống trị – như Rémi Brague đã ghi nhận, điều mà chúng ta thường quên lãng – "người Do Thái và Kitô giáo phải chịu đựng nhiều biện pháp được cố tình áp đặt nhằm khiến họ hiểu rằng, thông qua sự sỉ nhục, việc cải sang Hồi giáo sẽ mang lại lợi ích cho họ." Những hành vi tương tự của người Hồi giáo vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Người Kitô giáo phải đối mặt với định kiến, sự ngược đãi, bắt cóc và cưỡng ép cải đạo tại nhiều quốc gia Hồi giáo.

Tuần này, chúng ta kỷ niệm 25 năm sự kiện 11/9. Sẽ là sai lầm khi quy trách nhiệm cho toàn bộ cộng đồng tôn giáo về hành động của một nhóm thiểu số cực đoan. Tuy nhiên, khi đất nước chúng ta vừa kỷ niệm 250 năm ngày thành lập, ta có thể nhớ lại một nhận định của Alexis de Tocqueville, tác giả cuốn *Nền dân chủ ở Mỹ*: “Tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng [Kinh Qur’an]... Sau khi nghiên cứu, tôi đi đến xác tín rằng, nhìn chung, hiếm có tôn giáo nào trên thế giới gây tai ương cho nhân loại khủng khiếp như tôn giáo của Muhammad... Dù ít phi lý hơn tín ngưỡng đa thần thời xưa, nhưng theo tôi, những khuynh hướng xã hội và chính trị của nó lại đáng sợ hơn gấp bội.”

Những lời lẽ này của Tocqueville – được viết trong một lá thư riêng gửi người bạn Arthur de Gobineau vào thời điểm Pháp đang đô hộ Algeria – mang giọng điệu vô cùng gay gắt; song cũng chẳng hề gay gắt hơn những lời phê phán Hồi giáo trước đó của các vị thánh như Gioan thành Damascus hay Thomas Aquinas, cùng nhiều người khác. Có lẽ tốt nhất là kết thúc bằng một số nhận định của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Karol Wojtyla đã có những cuộc gặp gỡ thực chất với các nhà lãnh đạo Hồi giáo nhiều hơn tất cả các vị giáo hoàng tiền nhiệm cộng lại. Và ngài tiếp cận Hồi giáo với thiện chí chân thành, mà không hề xem nhẹ những điểm khác biệt giữa tôn giáo này và Kitô giáo:

Bất cứ ai am hiểu Cựu Ước và Tân Ước, rồi đọc [Kinh Qur’an], đều thấy rõ quá trình mà trong đó kinh này đã giản lược hoàn toàn Mặc khải của Thiên Chúa. Không thể không nhận thấy sự xa rời những gì Thiên Chúa đã phán về chính Người—trước tiên là trong Cựu Ước qua các Ngôn sứ, và sau cùng là trong Tân Ước qua Con của Người. Trong Hồi giáo, toàn bộ sự phong phú của việc Thiên Chúa tự mặc khải—vốn là di sản của Cựu Ước và Tân Ước—đã bị gạt sang một bên.

Một số danh xưng đẹp đẽ nhất trong ngôn ngữ loài người được dành cho vị thần của [Kinh Qur’an], nhưng rốt cuộc, đó là một vị thần đứng bên ngoài thế giới; một vị thần chỉ là Đấng Uy linh, chứ không bao giờ là Emmanuel—Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Hồi giáo không phải là tôn giáo của sự cứu chuộc. Ở đó không có chỗ cho Thập giá và Sự Phục sinh. Chúa Giêsu có được nhắc đến, nhưng chỉ như một ngôn sứ dọn đường cho vị ngôn sứ cuối cùng là Muhammad. Đức Maria—Mẹ Đồng trinh của Người—cũng được nhắc đến, nhưng bi kịch của công cuộc cứu chuộc hoàn toàn vắng bóng. Chính vì lý do này, không chỉ thần học mà cả nhân học của Hồi giáo cũng rất khác biệt so với Kitô giáo.

Đáng tiếc thay (trong trường hợp này), niềm tin luôn dẫn đến những hệ quả. Và đối với các Kitô hữu, cái giá phải trả cho việc hiểu sai về Hồi giáo là vô cùng đắt và cay đắng.