Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 28/07: Khi đợi chờ là biểu hiện của Lòng Thương Xót – Lm. Antôn Nguyễn Thế Nhân, SSS
Giáo Hội Năm Châu
03:59 27/07/2026
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
Khi ấy, Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng : “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe.” 37 Người đáp : “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. 38 Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. 39 Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là quỷ dữ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên sứ. 40 Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. 41 Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, 42 rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. 43 Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe.”
Đó là Lời Chúa
RỒI MÙA SẼ ĐẾN
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
16:59 27/07/2026
RỒI MÙA SẼ ĐẾN

“Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời”.
“Mọi sự đều là một thời kỳ thai nghén, rồi mới đến lúc sinh nở!” - Rainer Maria Rilke.
Kính thưa Anh Chị em,
Không ai có thể đòi mùa gặt khi hạt giống vừa được gieo; cũng không ai mong ngày sinh nở khi thời kỳ thai nghén chưa trọn. Mọi sự đều cần thời gian. Lời Chúa hôm nay cho thấy Thiên Chúa không vội vàng, vì Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.
Và chính ở đó, Chúa Giêsu mặc khải một cái nhìn rất khác về thời gian. Bản Hy Lạp viết synauxanesthai - “cùng lớn lên”. Có những điều chỉ khi lớn lên mới biết mình là gì. Hạt lúa phải đợi đến khi trổ bông, cỏ lùng cũng phải đợi đến lúc kết hạt mới lộ nguyên hình. Chúa Giêsu vì thế không nhìn cánh đồng bằng con mắt của một khoảnh khắc, nhưng bằng cái nhìn của cả một vụ mùa. Con người chỉ nhìn thấy cánh đồng mới mọc; Thiên Chúa đã nhìn thấy mùa gặt. Đầy tớ sợ cỏ lùng; chủ ruộng tin vào lúa. Bởi Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.
Trong cái nhìn của Thiên Chúa, có những điều chỉ đến mùa mới sáng tỏ. Vì thế, Chúa Giêsu không vội phân định. Ngài để thời gian hoàn tất điều mà con mắt con người chưa nhìn thấy. Đến mùa, lúa không cần chứng minh mình là lúa; cỏ lùng cũng không thể tiếp tục giả làm lúa. “Dối trá không thể hoá thành chân lý, cho dù nó có lớn mạnh đến đâu!” - Rabindranath Tagore.
Điều lạ trong dụ ngôn không phải là cỏ lùng, nhưng là sự bình thản của ông chủ. Giữa một cánh đồng đã bị gieo phá, ông không hốt hoảng. Ông hiểu rằng có những việc càng vội càng hỏng, càng nóng lòng càng mất. Chỉ mùa gặt mới có tiếng nói sau cùng. Điều kỳ diệu nhất trong dụ ngôn có lẽ không nằm ở mùa gặt, mà ở khả năng chờ đợi của Thiên Chúa. Chúng ta đo thời gian bằng đồng hồ; Thiên Chúa đếm thời gian bằng hy vọng. Bao lâu còn một hạt lúa có thể trổ bông, bấy lâu Ngài vẫn đợi.
Niềm hy vọng ấy cũng là niềm hy vọng của Giêrêmia. Giữa cảnh đất trời khô cằn và lòng người bội bạc, vị ngôn sứ vẫn không buông lời tuyệt vọng. Ông thú nhận tội lỗi của dân, nhưng đồng thời nài xin Thiên Chúa hành động vì danh Chúa và lòng trung tín của Ngài - bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh không ngừng thưa lên: “Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con!” - Thánh Vịnh đáp ca.
Với chúng ta, điều làm chúng ta mệt nhiều khi không phải là cỏ lùng, mà là cảm giác chẳng có gì đổi thay. Chúng ta sốt ruột với chính mình, với người khác, thậm chí với cả Thiên Chúa. Đừng bỏ cuộc quá sớm, vì biết bao mùa gặt đã chết ngay trong ngày người ta bỏ cuộc.
Anh Chị em,
Đức Kitô chính là bằng chứng Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ cánh đồng của mình. Khi con người tưởng mọi sự đã kết thúc trên thập giá, Ngài lại khởi đầu một mùa gặt mới bằng biến cố phục sinh. Với Đức Phanxicô, Chúa không mời chúng ta đi tìm cỏ lùng, Ngài mời chúng ta đi chăm lúa. Vì thế, theo Đức Kitô là dám ở lại với hy vọng, vì ‘rồi mùa sẽ đến’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin cho con đừng thất vọng quá sớm về chính mình, về tha nhân, vì mùa của Chúa luôn đến đúng lúc!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời”.
“Mọi sự đều là một thời kỳ thai nghén, rồi mới đến lúc sinh nở!” - Rainer Maria Rilke.
Kính thưa Anh Chị em,
Không ai có thể đòi mùa gặt khi hạt giống vừa được gieo; cũng không ai mong ngày sinh nở khi thời kỳ thai nghén chưa trọn. Mọi sự đều cần thời gian. Lời Chúa hôm nay cho thấy Thiên Chúa không vội vàng, vì Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.
Và chính ở đó, Chúa Giêsu mặc khải một cái nhìn rất khác về thời gian. Bản Hy Lạp viết synauxanesthai - “cùng lớn lên”. Có những điều chỉ khi lớn lên mới biết mình là gì. Hạt lúa phải đợi đến khi trổ bông, cỏ lùng cũng phải đợi đến lúc kết hạt mới lộ nguyên hình. Chúa Giêsu vì thế không nhìn cánh đồng bằng con mắt của một khoảnh khắc, nhưng bằng cái nhìn của cả một vụ mùa. Con người chỉ nhìn thấy cánh đồng mới mọc; Thiên Chúa đã nhìn thấy mùa gặt. Đầy tớ sợ cỏ lùng; chủ ruộng tin vào lúa. Bởi Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.
Trong cái nhìn của Thiên Chúa, có những điều chỉ đến mùa mới sáng tỏ. Vì thế, Chúa Giêsu không vội phân định. Ngài để thời gian hoàn tất điều mà con mắt con người chưa nhìn thấy. Đến mùa, lúa không cần chứng minh mình là lúa; cỏ lùng cũng không thể tiếp tục giả làm lúa. “Dối trá không thể hoá thành chân lý, cho dù nó có lớn mạnh đến đâu!” - Rabindranath Tagore.
Điều lạ trong dụ ngôn không phải là cỏ lùng, nhưng là sự bình thản của ông chủ. Giữa một cánh đồng đã bị gieo phá, ông không hốt hoảng. Ông hiểu rằng có những việc càng vội càng hỏng, càng nóng lòng càng mất. Chỉ mùa gặt mới có tiếng nói sau cùng. Điều kỳ diệu nhất trong dụ ngôn có lẽ không nằm ở mùa gặt, mà ở khả năng chờ đợi của Thiên Chúa. Chúng ta đo thời gian bằng đồng hồ; Thiên Chúa đếm thời gian bằng hy vọng. Bao lâu còn một hạt lúa có thể trổ bông, bấy lâu Ngài vẫn đợi.
Niềm hy vọng ấy cũng là niềm hy vọng của Giêrêmia. Giữa cảnh đất trời khô cằn và lòng người bội bạc, vị ngôn sứ vẫn không buông lời tuyệt vọng. Ông thú nhận tội lỗi của dân, nhưng đồng thời nài xin Thiên Chúa hành động vì danh Chúa và lòng trung tín của Ngài - bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh không ngừng thưa lên: “Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con!” - Thánh Vịnh đáp ca.
Với chúng ta, điều làm chúng ta mệt nhiều khi không phải là cỏ lùng, mà là cảm giác chẳng có gì đổi thay. Chúng ta sốt ruột với chính mình, với người khác, thậm chí với cả Thiên Chúa. Đừng bỏ cuộc quá sớm, vì biết bao mùa gặt đã chết ngay trong ngày người ta bỏ cuộc.
Anh Chị em,
Đức Kitô chính là bằng chứng Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ cánh đồng của mình. Khi con người tưởng mọi sự đã kết thúc trên thập giá, Ngài lại khởi đầu một mùa gặt mới bằng biến cố phục sinh. Với Đức Phanxicô, Chúa không mời chúng ta đi tìm cỏ lùng, Ngài mời chúng ta đi chăm lúa. Vì thế, theo Đức Kitô là dám ở lại với hy vọng, vì ‘rồi mùa sẽ đến’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin cho con đừng thất vọng quá sớm về chính mình, về tha nhân, vì mùa của Chúa luôn đến đúng lúc!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Niềm Hy Vọng của Tôi về Châu Âu Kitô giáo
Vũ Văn An
14:17 27/07/2026
Kristen Ziccarelli, Thứ Hai, ngày 27 tháng 7 năm 2026, trên bản tin của The Catholic Thing, cho hay: Nhà triết học hiện sinh người Pháp Gabriel Marcel gọi hy vọng là “chất liệu tạo nên linh hồn”. Dante đánh dấu lối vào Địa ngục bằng sự vắng mặt của nó: Lasciate ogni speranza, voi ch’entrate (“Hãy từ bỏ mọi hy vọng, hỡi những kẻ bước vào đây.”)
Các nền văn minh thường không được đánh giá bằng hy vọng. Chúng ta có xu hướng đánh giá chúng bằng sức mạnh quân sự, sự ổn định chính trị hoặc sản lượng kinh tế – tất cả đều là những thước đo công bằng, theo một cách nào đó. Tuy nhiên, vào thời điểm mà nhiều người cho rằng Châu Âu và Hoa Kỳ đang quên đi cội nguồn văn minh của mình và cần một sự phục hưng về đức tin, tình yêu và luật pháp, thì có một câu hỏi sâu sắc hơn, vẫn còn đó: Người dân của chúng ta tin rằng tương lai nào là khả hữu?
Là một người Mỹ thường xuyên đi du lịch đến Châu Âu, tôi nhận thấy có rất nhiều người Mỹ đến Châu Âu để tìm kiếm nguồn cảm hứng từ quá khứ Kitô giáo của nơi này. Tuy nhiên, khi nói đến hiện tại, tôi cũng nhận thấy nhiều người Mỹ nhận xét rằng châu Âu dường như đang gặp khó khăn hơn về kinh tế, việc thực hành đức tin, sự tôn trọng sự sống, tỷ lệ sinh và sự lạc quan về tương lai.
Tuy nhiên, dù điều này có thể đúng, tôi lại càng có nhiều lý do để hy vọng, không phải vì các định chế, nền kinh tế hay chính trị của châu Âu, mà vì tôi đã quen biết những người Kitô hữu ở đó.
Hơn hầu hết người Mỹ, cuộc sống của tôi từ thời thơ ấu đã gắn bó mật thiết với châu Âu. Tôi đã trải qua những năm tháng trưởng thành ở Slovenia và Đức và say mê opera, văn học và lịch sử phong phú của Thế giới cũ. Khi chuyển đến Edinburgh để bắt đầu chương trình thạc sĩ, tôi đã đi lễ tại nhà thờ St. Albert, nơi đặt trụ sở của Hội Sinh viên Công Giáo của trường đại học.
Dưới sự lãnh đạo khôn ngoan và trí thức của các linh mục dòng Đa Minh, tôi đã gặp gỡ những người Công Giáo từ khắp châu Âu, những người có tấm gương bác ái và sự trân trọng di sản vinh quang của họ đã truyền cảm hứng cho tôi đặt đức tin vào trung tâm cuộc sống của mình. Tuy nhiên, dù phụng vụ Latinh và các Thánh lễ hòa nhạc hàng tuần tại Nhà thờ Chính tòa Thánh Mary có đẹp đến đâu, chúng vẫn chỉ là thứ yếu so với tác động biến đổi từ chứng nhân của những người bạn Công Giáo của tôi.
Trong thời gian đó, tôi nhận ra cộng đồng Công Giáo thực hành đã trở nên nhỏ bé như thế nào, ngay cả trong một trong những trường đại học hàng đầu châu Âu. Trong số 49,000 sinh viên tại Đại học Edinburgh, nhà nguyện chỉ có khoảng 100 sinh viên đến thăm mỗi tuần: khoảng 0.2 phần trăm. Xét về số lượng, đó không phải là một tỷ lệ tốt.
Tuy nhiên, đức tin chưa bao giờ chỉ xoay quanh số lượng. Tương lai của Scotland Công Giáo hay châu Âu Kitô giáo, nếu có, sẽ phụ thuộc ít hơn nhiều vào số lượng tín hữu đăng ký, hoặc thậm chí là việc bảo tồn các cấu trúc của nó. Tôi tin rằng nó phụ thuộc vào lòng trung thành của các tín hữu Kitô giáo.

Chính tại Edinburgh, tôi đã lần đầu tiên được chứng kiến đức tin sống động của những người bạn châu Âu, những người yêu mến di sản Kitô giáo của họ và mỗi ngày đều chọn làm chứng và bảo vệ nó. Lời chứng của họ là nguồn cảm hứng vượt ngoài sức tưởng tượng – họ tin vào phép lạ, và ngay cả giữa sự đổ vỡ của thế giới, họ vẫn tin vào sự chiến thắng của trái tim trước mọi thứ khác. Trong thơ của Charles Peguy, ông tưởng tượng Chúa nói rằng, “[niềm] tin mà Ta yêu nhất là Hy vọng” bởi vì “các con Ta thấy những gì xảy ra và tin rằng mọi thứ sẽ tốt hơn.”
Ở phía bên kia Đại Tây Dương, hầu hết các cuộc trò chuyện về châu Âu ngày nay đều mang tính bi quan. Nhiều người tin chắc rằng sự thế tục hóa lan rộng, sự suy giảm dân số, ảnh hưởng của Hồi giáo và làn sóng di cư ồ ạt đã định đoạt câu hỏi liệu châu Âu có tương lai hay không, chứ đừng nói đến một tương lai tươi sáng. Tôi thấy mình ít nghi ngờ hơn nhiều người đồng nghiệp ở Washington, D.C. Không thể phủ nhận bóng tối của thời đại hiện nay – nhưng tôi vẫn thấy mình tràn đầy hy vọng.
Hy vọng là một đức tính thần học bị hiểu lầm. Nó thường bị nhầm lẫn với sự lạc quan, vốn phụ thuộc vào những hoàn cảnh thuận lợi. Hy vọng thì không. Thánh Gioan Phaolô II đã nhiều lần hướng đến giới trẻ, gọi họ là “tương lai và niềm hy vọng của Giáo hội và của thế giới.” Những lời của ngài mô tả những người mà tôi đã may mắn được biết.
Những người bạn Kitô giáo châu Âu của tôi không nhất thiết đang chiến thắng trong "cuộc chiến văn hóa", nhưng họ kiên quyết từ chối bị biến dạng bởi nền văn hóa thịnh hành. Họ có mọi lý do để tuyệt vọng, nhưng họ không. Trọng tâm của họ không phải là bất cứ điều gì có thể được định nghĩa là sự bất bình, mặc dù họ có quyền như vậy, khi thấy các định chế của họ đã làm họ thất vọng. Thay vào đó, họ được thúc đẩy bởi niềm tin rằng Tin Mừng là sự thật.
Ngoài việc sống theo chân lý, nhiều người chọn cách làm việc không mệt mỏi để bảo vệ đức tin của mình, cả trong đời tư và công cộng, tạo ra các dự án để bảo vệ những gì họ biết là đúng. Họ là những tâm hồn cao thượng, kết bạn và truyền giáo mà không cần đến sự hung hăng.
Ở Edinburgh, tôi có những người bạn trẻ hơn tôi (23 tuổi vào thời điểm đó) đã bảo trợ một số người Công Giáo trẻ gia nhập Giáo hội. Một người bạn ở Slovakia đã gặp một người bạn cùng tập cử tạ ở phòng tập của anh ấy, và một năm sau, đứng bên cạnh ông ấy với tư cách là người đỡ đầu gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Tôi đã chứng kiến những người bạn của mình ở châu Âu thường xuyên cầu nguyện, kết hôn sớm, giữ ngày Chúa Nhật và xây dựng cộng đồng phi thường. Không thể dành nhiều thời gian ở bên họ mà không nhớ đến những tín hữu Kitô giáo đầu tiên của Giáo hội sơ khai.
Đế quốc La Mã yêu cầu Caesar phải được công nhận là Kyrios – Chúa. Các tín hữu Kitô giáo thế kỷ thứ ba đã lặng lẽ từ chối, và mặc dù nhiều người trong số họ đã bị giết, nhưng sự tử đạo của họ là lý do chúng ta có Giáo hội ngày nay. Václav Havel, viết gần hai thiên niên kỷ sau đó, trong tác phẩm “Sức mạnh của người không có quyền lực”, lập luận rằng tất cả chúng ta đều sở hữu sức mạnh phi thường khi chọn sống như thể Kitô giáo là chân lý.
Đó là tinh thần của Rô-ma 5:5: “Và hy vọng đừng làm chúng ta thất vọng, vì lòng yêu thương của Thiên Chúa đã được đổ đầy trong lòng chúng ta, bởi Chúa Thánh Thần, Đấng đã được ban cho chúng ta.” Tôi đã thấy niềm hy vọng đó được đổ đầy vào cuộc sống của những tín hữu Kitô giáo bình thường trên khắp châu Âu.
Họ không chờ đợi lịch sử trở nên thuận lợi trước khi sống trung thành. Các nền văn minh cuối cùng được đổi mới theo cùng một cách mà chúng được xây dựng ban đầu: từng linh hồn, từng gia đình, từng nhà thờ, từng vị thánh một. Đó là lý do tại sao tôi vẫn hy vọng vào tương lai của châu Âu Kitô giáo.
Nghiên cứu cho thấy các thừa tác viên giới trẻ Công Giáo đang đảm nhận những vai trò phức tạp hơn.
Vũ Văn An
15:00 27/07/2026

Một báo cáo mới cho thấy, nhìn chung, thế hệ lãnh đạo mục vụ trẻ ngày nay có nhiều mối quan tâm hơn về những yêu cầu của thừa tác vụ.
Tessa Gervasini của hãng tin EWTNNews, ngày 27 tháng 7 năm 2026, tường trình rằng: Các nhà lãnh đạo mục vụ giới trẻ và thanh niên Công Giáo đang phải gánh vác nhiều trách nhiệm hơn và đối diện với những thách thức mới khi đồng hành cùng giới trẻ trong công tác mục vụ của Giáo hội đang phát triển, theo nghiên cứu từ Ministry Training Source (MTS).
Nghiên cứu cho thấy thế hệ lãnh đạo mục vụ trẻ đang đảm nhiệm những vai trò ngày càng phức tạp và thường phải cân bằng nhiều công tác mục vụ. Họ cũng đang đối diện với những lo ngại về tiền lương, sự rõ ràng về vai trò và tính bền vững lâu dài.
Mặc dù gặp nhiều thách thức, hầu hết vẫn cho biết công tác mục vụ mang lại cho họ niềm vui.
Trong số các nhà lãnh đạo được MTS khảo sát trong nghiên cứu năm 2024, 87% cho biết công việc mục vụ của họ “thường xuyên” hoặc “luôn luôn” mang lại cho họ niềm vui, 80% cho biết công việc mục vụ họ làm “luôn luôn” hoặc “thường xuyên” hiệu quả, và 65% cho biết họ “luôn luôn” hoặc “thường xuyên” có sự hỗ trợ và kết nối từ cộng đồng.
Nghiên cứu được thực hiện bởi Charlotte McCorquodale, chủ tịch của MTS, một tổ chức phi lợi nhuận phục vụ các tổ chức mục vụ trong Giáo Hội Công Giáo.
Báo cáo mới nhất của nhóm, “Những xu hướng nổi bật: Nghiên cứu về các nhà lãnh đạo mục vụ phục vụ thanh thiếu niên và người trẻ Công Giáo giai đoạn 2000-2025”, tổng hợp các phát hiện từ năm nghiên cứu quốc gia. Báo cáo bao gồm các cuộc phỏng vấn và khảo sát từ một nghiên cứu định tính năm 2022-2023 với 127 nhà lãnh đạo mục vụ và một cuộc khảo sát năm 2024 với 757 nhà lãnh đạo mục vụ hiện tại và 49 cựu lãnh đạo.
Trong báo cáo, các phát hiện cũng được so sánh với các nghiên cứu trước đó được thực hiện vào năm 2000, 2008 và 2016.
“Điểm áp lực” của các nhà lãnh đạo mục vụ phục vụ giới trẻ Công Giáo
Nghiên cứu đã chỉ ra ba “điểm áp lực” của các thừa tác viên mục vụ phục vụ thanh thiếu niên và người trẻ tuổi.
Theo McCorquodale, những điểm áp lực này tích lũy từ khối lượng công việc mà các nhà lãnh đạo phải gánh vác và những thách thức mà họ gặp phải. Hy vọng là các cộng đồng sẽ sử dụng nghiên cứu này để phân tích các hoạt động mục vụ của mình, xác định các điểm áp lực của riêng họ, và sau đó cải thiện chúng.
McCorquodale đặt tên cho điểm đầu tiên là “Nhiều hơn, Nhiều hơn, Nhiều hơn”, đó là những phát hiện cho thấy các nhà lãnh đạo đang làm nhiều hơn, giải thích nhiều hơn và gánh vác nhiều hơn với số lượng tình nguyện viên và thanh thiếu niên tham gia ít hơn.
Khi xem xét sự quá tải công việc, báo cáo cho thấy ngày nay, vai trò của các thừa tác viên mục vụ bao gồm tuyển dụng tình nguyện viên, chuẩn bị các bí tích, điều hành các chương trình dành cho thanh thiếu niên, tổ chức các buổi gặp gỡ người trẻ tuổi và hỗ trợ những người trẻ tuổi đang gặp khủng hoảng — tất cả trong khi cố gắng cân bằng cuộc sống cá nhân.
McCorquodale cho biết phạm vi mở rộng của vị trí này đã trở nên rõ ràng trong quá trình nghiên cứu.
“Việc xác định người này là ai, họ phục vụ ai, họ phục vụ như thế nào và chức danh của họ là gì… đã trở thành một thách thức thực sự,” bà McCorquodale nói với EWTN News. “Rất nhiều người đang đảm nhiệm nhiều thừa tác vụ khác nhau.”
“Chúng tôi đã hỏi: ‘Những vấn đề là gì? Những thách thức mà giới trẻ đang phải đối diện hiện nay ảnh hưởng đến kinh nghiệm mục vụ của các bạn là gì?’” bà nói.
Ở nhiều giáo xứ, các thừa tác viên thanh niên và người trẻ tuổi đã trở thành nguồn lực chính của Giáo hội dành cho các tín hữu trẻ và “đôi khi họ là những người lãnh đạo tuyến đầu duy nhất mà Giáo hội có cho công tác mục vụ,” bà nói.
“Tôi nghĩ vai trò của họ đã mở rộng khi nguồn lực của Giáo hội bị thu hẹp ở nhiều nơi khác nhau,” bà nói.
Điểm áp lực thứ hai, “Những thực tại thay đổi,” đến từ những thay đổi trong công tác mục vụ. Các nhà lãnh đạo đang ứng phó với những thay đổi và thách thức về văn hóa, dẫn đến lời kêu gọi đổi mới trong thừa tác vụ.
“Tôi nghĩ rằng khi văn hóa trở nên cực đoan hơn, khi cuộc sống của chúng ta trải qua nhiều thách thức hơn, đó là một phần gánh nặng hoặc áp lực mà các nhà lãnh đạo đang phải gánh chịu trên nhiều phương diện khác nhau,” McCorquodale nói.
Cuối cùng, điểm áp lực mà McCorquodale gọi là “Kiểm tra sự phù hợp”, là những phát hiện cho thấy các nhà lãnh đạo trẻ đang kỳ vọng nhiều hơn các thừa tác viên thuộc thế hệ trước. Họ đang cân nhắc thời gian, tiền lương và sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống khi quyết định ở lại hay rời bỏ thừa tác vụ.
Những mối lo ngại ngày càng tăng khác
Báo cáo cho thấy gần một phần tư số nhà lãnh đạo cho biết việc thiếu đào tạo có tác động đáng kể đến công việc của họ.
Kể từ năm 2016, tỷ lệ những người cho rằng điều đó “không đáng kể” đã giảm 10%, cho thấy nhu cầu đào tạo và hỗ trợ ngày càng tăng.
Tuyển dụng tình nguyện viên người lớn cũng trở thành “một vấn đề lớn”, theo báo cáo. “Tìm kiếm các nhà lãnh đạo người lớn” được coi là một vấn đề ở mức độ nào đó đối với hầu hết các thừa tác viên, chỉ có 6% cho rằng nó “hoàn toàn không đáng kể”.
“Việc tìm kiếm thanh thiếu niên và người trẻ tuổi tham gia” cũng được nêu ra như một mối lo ngại ở một mức độ nào đó trong số những người được hỏi (89%). Trong số các nhà lãnh đạo, 62% cho biết họ thấy việc thu hút thanh thiếu niên là “thách thức đáng kể” hoặc “thách thức rất đáng kể”.
Hầu hết người được hỏi (79%) cho rằng “ngân sách không đủ” cho các thừa tác vụ dành cho thanh thiếu niên và người trẻ tuổi là một vấn đề đáng kể, trong đó 20% cho biết đây là vấn đề “rất nghiêm trọng” đối với họ.
Nhiều người cũng nêu ra những thách thức cá nhân đi kèm với vai trò lãnh đạo.
Gần như tất cả các nhà lãnh đạo thừa tác vụ đều cho rằng yêu cầu về thời gian là một gánh nặng đáng kể, chỉ có 12% cho rằng nó “không đáng kể”.
Nhiều người cũng cho rằng sự mơ hồ về vai trò là một vấn đề. Gần ¾ (72.5%) cho biết họ phải “giải thích hoặc biện minh cho vai trò của mình ít nhất là đôi khi”, trong đó 32.5% làm như vậy “thường xuyên” hoặc “hầu như mọi lúc”.
Báo cáo lưu ý rằng mô hình này chỉ ra “các vấn đề đang diễn ra về sự rõ ràng và công nhận vai trò và có thể là một dấu hiệu cảnh báo đối với bản sắc thừa tác vụ, việc hòa nhập và hội nhập trong cấu trúc giáo xứ hoặc giáo phận”.
Tương tự, sự hỗ trợ từ giáo phận cũng được cho là không nhất quán, chỉ có 30% báo cáo rằng giáo phận của họ cung cấp sự hỗ trợ hiệu quả “hầu như mọi lúc” hoặc “mọi lúc”.
Mối quan tâm theo thế hệ
Nghiên cứu đã tìm thấy những khác biệt đáng kể giữa các thế hệ lãnh đạo thừa tác vụ. Báo cáo cho thấy, nhìn chung, các nhà lãnh đạo trẻ tuổi có nhiều mối quan tâm hơn về các yêu cầu của thừa tác vụ so với các thế hệ lớn tuổi hơn.
Năm 2024, 17% số người được khảo sát là thế hệ Baby Boomers, từ 60 tuổi trở lên; 30% là thế hệ X, từ 44 đến 59 tuổi; 41% là thế hệ Millennials, từ 28 đến 43 tuổi; và 12% là thế hệ Z, từ 21 đến 27 tuổi.
Gần như tất cả những người được khảo sát thuộc thế hệ Z (70%) cho rằng đúng là "thường xuyên" hoặc "luôn luôn" mục vụ dành cho thanh thiếu niên và người trẻ tuổi cần phải được "tái phát minh".
Nhóm này cho thấy thời gian tại vị dự kiến ngắn nhất, với 72% dự đoán họ sẽ ở lại thừa tác vụ thanh thiếu niên trong vòng 5 năm hoặc ít hơn.
Trong số những người được khảo sát thuộc thế hệ Z, những lý do phổ biến nhất khiến họ rời bỏ công việc là sự mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống (48%), mức lương không thỏa đáng (47%) và áp lực về thời gian (36%).
Thế hệ Millennials cũng cho thấy dấu hiệu giảm sút cam kết lâu dài. Mặc dù 57% dự kiến sẽ giữ vai trò này trong hơn 5 năm, báo cáo lưu ý rằng ý định của họ đã chuyển từ sự nghiệp lâu dài sang sự nghiệp tầm trung.
Trong số thế hệ Millennials, 32% cho biết họ dự kiến sẽ giữ vị trí này trong hơn 10 năm, giảm 8% so với nghiên cứu năm 2016.
Thế hệ Millennials nêu ra lý do chính khiến họ rời bỏ công việc là mức lương và phúc lợi không thỏa đáng (37%), yêu cầu về thời gian (29%), mong muốn cân bằng công việc và cuộc sống hoặc cuộc sống gia đình tốt hơn (26%), và thiếu sự hỗ trợ từ các mục tử hoặc người giám sát (23%).
Ngược lại, 41% người thuộc thế hệ X và 75% người thuộc thế hệ Baby Boomer cho rằng nghỉ hưu là lý do chính khiến họ rời bỏ công việc.
Số lượng thừa tác viên thuộc thế hệ X nêu lý do rời bỏ công việc là do yêu cầu về thời gian (24%) và mức lương và phúc lợi không thỏa đáng (21%), ít hơn nhiều so với các thế hệ trẻ hơn.
Các bước tiếp theo
Để giải quyết những điểm áp lực mà nghiên cứu đã chỉ ra, McCorquodale đã đưa ra ba hành động để khắc phục chúng.
Báo cáo đề xuất các cộng đồng “giải quyết khoảng cách lãnh đạo, định hình lại việc đào tạo và tính hiệu năng, đồng thời tạo ra sự rõ ràng và bền vững trong vai trò lãnh đạo.”
Để hỗ trợ các nhà lãnh đạo trong các giáo phận, giáo xứ và các nhóm mục vụ, MTS đã tạo ra một gói tài liệu bao gồm nghiên cứu và một chuỗi hội thoại hướng dẫn các nhóm xem xét dữ liệu và thảo luận về những gánh nặng mà các nhà lãnh đạo đang gặp phải.
“Tôi muốn điều này giống như cách kính màu phản chiếu ánh nắng và mây,” McCorquodale nói. “Tôi muốn nó là một cách để mọi người xem xét nghiên cứu này… và nói: ‘Điều này có phù hợp với kinh nghiệm của chúng ta hay không? Điều gì phù hợp? Những điểm áp lực là gì?’”
Các cộng đồng nên sử dụng nó như “một lăng kính để xem xét những điểm áp lực mà họ đang gặp phải trong việc lãnh đạo mục vụ thanh thiếu niên và người trẻ tuổi,” McCorquodale nói.
“Không có một khuôn mẫu chung cho tất cả. Đó là lý do tại sao đối thoại là trọng tâm của sự thay đổi.”
“Chúng ta cần bắt đầu thảo luận về những vấn đề quan trọng này, không chỉ với linh mục và người lãnh đạo mục vụ mà còn với một nhóm người sẽ giúp định hướng cuộc đối thoại đó cho tương lai của cộng đồng, giáo xứ, giáo phận, phong trào và tổ chức,” bà nói.
Điều gì đã xảy ra với dịch vụ chăm sóc người hấp hối?
Vũ Văn An
16:56 27/07/2026

Những gì bắt đầu như một công việc bác ái của người Kitô giáo đã biến thành một ngành công nghiệp trị giá 31 tỷ đô la mỗi năm, thu hút những kẻ lừa đảo và những nhà đầu tư tư nhân săn tìm lợi nhuận. Khi việc hỗ trợ tự tử hợp pháp ngày càng phổ biến ở Hoa Kỳ, một số người ủng hộ phong trào bảo vệ sự sống lo ngại những vấn đề tồi tệ hơn sẽ xảy ra.
Gigi Duncan của tạp chí National Catholic Register, ngày 27 tháng 7 năm 2026, cho hay: Nhiều gia đình Công Giáo có thể làm chứng cho những trải nghiệm tích cực mà họ đã có với các chương trình chăm sóc người hấp hối, nơi đã chăm sóc những người thân yêu trong những ngày cuối đời với phẩm giá và lòng trắc ẩn.
Nhưng những bản tin gần đây về nạn gian lận tràn lan đã khiến ngành chăm sóc người hấp hối nhìn nhận mọi việc theo một góc độ khác. Ví dụ, vào tháng Sáu, các nhà chức trách liên bang đã buộc tội người điều hành nhiều cơ sở chăm sóc người hấp hối ở Los Angeles, cùng với một nhóm đồng phạm, về một vụ gian lận trị giá 27 triệu đô la liên quan đến việc đánh cắp danh tính của người đã khuất và lập hóa đơn cho chính phủ về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe giả mạo, sử dụng số tiền thu được để mua các mặt hàng xa xỉ, bao gồm cả tiền thuê một chiếc Rolls-Royce Phantom trị giá hơn 500,000 đô la.
“Bạn có thể tưởng tượng điều gì tồi tệ hơn việc giả vờ chăm sóc những người sắp chết trong khi thực chất không phải vậy không?” Wesley J. Smith, chủ tịch kiêm nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm về Tính Đặc biệt của Con người, một chương trình đạo đức sinh học và chính sách công của Viện Khám phá có trụ sở tại Seattle, tập trung vào các vấn đề về phẩm giá, tự do và bình đẳng của con người, cho biết.
Các nhà lãnh đạo và chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc người hấp hối cho rằng làn sóng bê bối trong lĩnh vực này là triệu chứng của tư duy chạy theo lợi nhuận đã ăn sâu vào ngành công nghiệp trị giá 31 tỷ đô la mỗi năm, khiến dịch vụ chăm sóc người hấp hối ngày càng xa rời nguồn gốc là một công việc bác ái của Ki-tô giáo dựa trên phẩm giá cơ bản của con người.
“Tôi rất ủng hộ việc chăm sóc người hấp hối tốt,” ông Smith nói. “Nhưng tôi lo lắng về hướng đi của dịch vụ này.”
Ông Smith không phải là người duy nhất, và điều khiến ông lo lắng nhất không phải là gian lận. Với việc trợ tử do bác sĩ hỗ trợ đang được hợp pháp hóa ở ngày càng nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ, những người ủng hộ bảo vệ sự sống trong dịch vụ chăm sóc người hấp hối lo ngại rằng một số nhà điều hành dịch vụ này, tập trung vào lợi nhuận hơn là đạo đức, sẽ coi đó chỉ đơn giản là một lựa chọn khác cho giai đoạn cuối đời dành cho những bệnh nhân dễ bị tổn thương và gia đình của họ.
Đây không chỉ là mối nguy hiểm giả định.
Theo Đạo luật Hỗ trợ Y tế trong Cái chết của New York, dự kiến có hiệu lực vào ngày 5 tháng 8, ngay cả các trung tâm chăm sóc người hấp hối do Công Giáo điều hành và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tôn giáo khác cũng có thể gặp rủi ro. Do luật mới, các nhân viên chăm sóc người hấp hối có thể phải đối diện với những hình phạt nặng nếu họ từ chối thảo luận về việc hỗ trợ tự tử với bệnh nhân của mình — và giới thiệu những người muốn kết thúc cuộc đời theo cách đó đến các bác sĩ sẽ tư vấn cho họ và kê đơn thuốc gây chết người để tự tử.
Điều khoản miễn trừ tôn giáo của luật được viết quá hẹp đến nỗi một cộng đồng tôn giáo — các Nữ tu Truyền giáo dòng Benedictine của Thánh Benedict — tin rằng họ sẽ phải cho phép kê đơn và sử dụng thuốc tự tử trong khuôn viên của mình.
Đáp lại, Giám mục John Barres của Giáo phận Rockville Centre và bốn cộng đồng nữ tu đã đệ đơn kiện chống lại tổng chưởng lý và ủy viên y tế của New York, tuyên bố rằng luật này vi phạm quyền tự do ngôn luận và tự do thực hành tôn giáo theo Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ.
“Chúng tôi sẽ không bao giờ khuất phục trước văn hóa chết chóc của New York,” Giám mục Barres nói trong một tuyên bố thông qua các luật sư của ngài tại Becket, một công ty luật về tự do tôn giáo.
“Hỗ trợ tự tử là một sai lầm đạo đức nghiêm trọng, đặt người già, người khuyết tật và những người mắc bệnh tâm thần và cảm xúc vào nguy cơ bị lạm dụng và thao túng,” giám mục nói. “Chúa Kitô, Đấng chữa lành thần linh, kêu gọi chúng ta đồng hành cùng người bệnh và người sắp chết với lòng thương xót, chứ không phải bỏ mặc họ đến chết. Tòa án nên bảo vệ sứ mệnh lâu đời này.”
Nếu luật được thực thi, vi phạm có thể dẫn đến việc mất giấy phép hoạt động, phạt dân sự 2,000 đô la cho mỗi lần vi phạm và trách nhiệm hình sự tiềm tàng, bao gồm cả án tù lên đến một năm.
Y sĩ hỗ trợ tự tử hiện đang hợp pháp ở 13 tiểu bang và Washington, D.C., và các nhà lập pháp ở ít nhất 15 tiểu bang khác — bao gồm Massachusetts, Rhode Island và Virginia — đã đưa ra dự luật để hợp pháp hóa việc thực hành này.
Từ Phong trào đến Medicare
Cuộc tranh luận về tương lai của dịch vụ chăm sóc người hấp hối bắt đầu bằng việc hiểu mục đích ban đầu của nó.
Chăm sóc người hấp hối và chăm sóc giảm nhẹ thường được sử dụng thay thế cho nhau, mặc dù chúng phục vụ các vai trò khác nhau. Theo Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ (USCCB), chăm sóc giảm nhẹ tập trung vào việc giảm đau, giảm triệu chứng và giảm căng thẳng cho những người mắc bệnh nặng trong khi họ vẫn tiếp tục điều trị. Chăm sóc tại các viện dành cho người hấp hối là một hình thức chăm sóc giảm nhẹ dành cho những người sắp qua đời, khi trọng tâm chuyển từ điều trị sang chăm sóc giảm nhẹ. Biến bệnh tật thành sự an ủi và đồng hành.
Phong trào chăm sóc người hấp hối hiện đại gắn liền với Mệnh Phụ Cicely Saunders, nữ bác sĩ Anh giáo đã thành lập Bệnh viện St. Christopher ở London năm 1967. Bà Saunders nhấn mạnh rằng bệnh nhân không bao giờ nên bị bỏ rơi và mô tả “nỗi đau toàn diện” bao gồm cả đau khổ về thể chất, cảm xúc và tinh thần.
Ông Smith, người đã phỏng vấn bà Saunders trước khi bà qua đời, cho biết tầm nhìn của bà về chăm sóc người hấp hối tập trung vào việc giúp bệnh nhân sống trọn vẹn nhất có thể trong thời gian còn lại của họ. Ông nói rằng Saunders cũng chỉ trích cách thức phát triển dịch vụ chăm sóc người hấp hối ở Hoa Kỳ, đặc biệt là yêu cầu của chương trình trợ cấp chăm sóc người hấp hối Medicare rằng bệnh nhân phải có tiên lượng sống dưới sáu tháng để đủ điều kiện được bảo hiểm.
“Khi [chăm sóc người hấp hối] được thực hiện đúng cách, đó là về sự sống, chứ không phải cái chết,” Smith nói. “Ý tưởng là giúp bệnh nhân có một cuộc sống tốt nhất có thể trong hoàn cảnh hiện tại thông qua nhiều can thiệp đa ngành.”
Mô hình của Saunders đã được chính thức áp dụng ở Hoa Kỳ vào năm 1974 với sự thành lập của Trung tâm Chăm sóc Người hấp hối Connecticut bởi Florence Wald, người đã được truyền cảm hứng từ công việc của Saunders. Hơn một thập niên sau, Quốc hội đã thiết lập chương trình trợ cấp chăm sóc người hấp hối Medicare thông qua Đạo luật Công bằng Thuế và Trách nhiệm Tài chính năm 1982, với việc bảo hiểm có hiệu lực vào năm 1983.
Medicare đã giúp mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc người hấp hối bằng cách tạo ra một hệ thống hoàn trả trong đó các nhà cung cấp nhận được khoản thanh toán hàng ngày cho mỗi ngày bệnh nhân được đăng ký, bất kể lượng chăm sóc được cung cấp.
Theo mức phí chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối năm tài chính 2026 của Trung tâm Dịch vụ Medicare & Medicaid (CMS), các nhà cung cấp dịch vụ nhận được 224.62 đô la mỗi ngày cho dịch vụ chăm sóc tại nhà thông thường trong 60 ngày đầu tiên của bệnh nhân và 176.92 đô la mỗi ngày sau ngày thứ 60, với mức thanh toán cao hơn cho các dịch vụ chuyên sâu hơn.
Nhu cầu chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối đã tăng lên cùng với sự già hóa dân số và sự gia tăng các bệnh mãn tính như chứng mất trí nhớ, ung thư và bệnh tim mạch. Thế hệ bùng nổ dân số (Baby Boomers) chiếm khoảng 20% dân số Hoa Kỳ — khoảng 73 triệu người Mỹ. Theo Viện Brookings, dân số từ 80 tuổi trở lên của quốc gia dự kiến sẽ tăng gần gấp đôi, từ 14.7 triệu người vào năm 2025 lên 29.4 triệu người vào năm 2045, làm tăng nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc dài hạn, bao gồm cả chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối.
Những yếu tố nhân khẩu học đó đã làm thay đổi diện mạo của dịch vụ chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối. Theo Viện Kinh tế Y tế Leonard Davis thuộc Đại học Pennsylvania (Penn LDI), số lượng người sử dụng dịch vụ chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối của Medicare đã tăng từ 500,000 người vào năm 2000 lên 1.8 triệu người hiện nay, trong khi chi tiêu hàng năm của Medicare cho dịch vụ này tăng từ 3 tỷ đô la lên 23 tỷ đô la trong cùng thời kỳ.
Cơ cấu sở hữu của các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối đã thay đổi cùng với sự tăng trưởng đó. Theo Penn LDI, vào năm 2000, khoảng một phần ba các cơ quan chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối là các tổ chức phi lợi nhuận. Dữ liệu từ báo cáo của Ủy ban Tư vấn Thanh toán Medicare (MedPAC) gửi Quốc hội vào tháng 3 năm 2026 cho thấy, hiện nay, hơn 80% tất cả các cơ quan chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối ở Hoa Kỳ hoạt động như các tổ chức vì lợi nhuận. Nghiên cứu từ Trung tâm Thông tin Công nghệ Sinh học Quốc gia cho thấy quyền sở hữu vốn tư nhân đối với các cơ sở chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối cũng tăng gấp ba lần từ năm 2011 đến năm 2019.
Các cơ quan chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối thuộc sở hữu của vốn tư nhân được điều hành bởi các công ty đầu tư chứ không phải các tổ chức phi lợi nhuận hoặc chủ sở hữu độc lập. Những người ủng hộ lập luận rằng các mô hình này có thể mở rộng khả năng tiếp cận, trong khi những người chỉ trích đặt câu hỏi liệu các ưu đãi tài chính có phù hợp với sứ mệnh lấy bệnh nhân làm trung tâm của dịch vụ chăm sóc người hấp hối hay không. Penn LDI nhận thấy rằng các cơ quan chăm sóc người hấp hối phi lợi nhuận tạo ra tỷ suất lợi nhuận hàng năm khoảng 5%-6%, so với khoảng 18%-22% ở các cơ quan tư nhân hoặc công cộng vì lợi nhuận.
Dữ liệu quốc gia về chăm sóc người hấp hối không phân loại các nhà cung cấp theo tôn giáo, nhưng các trung tâm chăm sóc người hấp hối Công Giáo chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ lĩnh vực. Dựa trên dữ liệu sở hữu của CMS, ước tính có khoảng 100-200 nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc người hấp hối Công Giáo hoạt động tại Hoa Kỳ, chiếm khoảng 2%-3% tổng số nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc người hấp hối.
Tiến sĩ Ira Byock, một bác sĩ và nhà lãnh đạo lâu năm trong lĩnh vực chăm sóc người hấp hối và chăm sóc giảm nhẹ, cho biết việc mở rộng dịch vụ chăm sóc người hấp hối vẫn là một trong những thành tựu lớn nhất của lĩnh vực này, cho phép hàng triệu người Mỹ khác được nhận chăm sóc cuối đời bên ngoài bệnh viện. Tuy nhiên, mối lo ngại của ông là việc thương mại hóa ngày càng tăng đã làm thay đổi các ưu tiên của một số nhà cung cấp dịch vụ.
Trong một hội thảo trực tuyến năm 2024 do Penn LDI tổ chức, Byock cho biết ban đầu ông ủng hộ sự phát triển của các trung tâm chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối vì lợi nhuận vào những năm 1990 vì ông tin rằng chúng có thể mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ trong khi vẫn duy trì chất lượng chăm sóc. Vào thời điểm đó, ông nói, “những chương trình vì lợi nhuận ban đầu đó hoàn toàn thuộc sở hữu của các cá nhân hoặc doanh nghiệp…” “Những môi trường trước đây rất nhiệt tình trong việc đảm bảo tiếp cận các dịch vụ và chất lượng chăm sóc.”
Nhưng ông cho biết bối cảnh bắt đầu thay đổi vào đầu những năm 2000, khi một số công ty chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối lớn được niêm yết công khai và các cấu trúc quản lý mới chú trọng hơn vào hiệu quả tài chính.
“Sau đó, chúng ta chứng kiến chất lượng chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối giảm sút và thái độ của ban quản lý mới tập trung vào vấn đề tài chính,” Byock nói.
“Tôi không phản đối dịch vụ chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối vì lợi nhuận,” ông lưu ý. “Tôi là người Mỹ và là một nhà tư bản. Tôi nghĩ rằng dịch vụ chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối vì lợi nhuận có chỗ đứng riêng, nhưng các chương trình đó phải thành công bằng cách cung cấp dịch vụ chăm sóc chất lượng cao một cách nhất quán và, thật không may, đó không phải là những gì chúng ta đã thấy.”
Ông chỉ ra áp lực về nhân sự là một ví dụ, nói với tờ Register rằng “ngày nay, đặc biệt là trong các chương trình chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối của các tập đoàn, không phải là hiếm gặp trường hợp các bác sĩ chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối phải chịu trách nhiệm cho 150, 200 hoặc thậm chí nhiều bệnh nhân hơn cùng một lúc.” Ông nói rằng điều đó là “nguy hiểm” khi một bác sĩ được đào tạo bài bản phải chăm sóc khoảng 70 bệnh nhân cùng một lúc.
Gian lận, Thất bại và Mất lòng tin
Khi ngành chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối phát triển thành một ngành lớn hơn và phức tạp hơn, những lo ngại về động cơ tài chính đã đi kèm với các báo cáo về những hành vi lạm dụng nghiêm trọng hơn. Một báo cáo của ProPublica đã ghi nhận nhiều ví dụ về hành vi sai trái bị cáo buộc, bao gồm các nhà cung cấp bị cáo buộc đăng ký cho những bệnh nhân không đáp ứng các yêu cầu đủ điều kiện chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối, sử dụng danh tính đánh cắp để lập hóa đơn cho Medicare và tạo ra các ưu đãi tài chính gắn liền với việc đăng ký bệnh nhân.
Trong một trường hợp, một phụ nữ mang thai 29 tuổi ở vùng Đồng bằng Mississippi phát hiện ra rằng cô đã được đưa vào chương trình chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối mà không hề hay biết trong một lần xét nghiệm máu định kỳ.
California là nơi có khoảng 2,200 nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối, gần 40% tổng số trên toàn quốc, phần lớn tập trung ở khu vực Los Angeles. Theo một báo cáo của kiểm toán viên tiểu bang, từ năm 2010 đến năm 2023, số lượng các công ty chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối ở Quận Los Angeles đã tăng vọt 1,500%, cùng với sự gia tăng tương ứng về các vụ gian lận bị nghi ngờ.
Cuộc điều tra gần đây của CBS News phát hiện ra rằng 700 trong số khoảng 1,800 cơ sở chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối ở Quận Los Angeles có nhiều dấu hiệu đáng ngờ về gian lận theo định nghĩa của tiểu bang.
Ông Byock cho biết, các cuộc điều tra liên bang gần đây đã thu hút sự chú ý trở lại đối với những cảnh báo mà một số người trong lĩnh vực chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối đã nêu ra trong nhiều năm.
“Một số người trong chúng tôi trong lĩnh vực này, những người đã ở gần vấn đề này, đã chứng kiến điều này xảy ra trong nhiều năm và đã cố gắng thu hút sự chú ý từ Bộ Tư pháp và Medicare,” ông Byock nói. “Tôi đã cố gắng để báo chí quốc gia chú ý đến điều này trong vài năm, nhưng thành thật mà nói, họ đã phớt lờ nó. Và giờ thì cuối cùng nó đã bị phanh phui.”
Các lãnh đạo Công Giáo chỉ ra những diễn biến bên ngoài Hoa Kỳ như một lý do khác gây lo ngại. Joseph Meaney, nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Đạo đức Sinh học Công Giáo Quốc gia, nơi cung cấp hướng dẫn đạo đức về các vấn đề chăm sóc sức khỏe từ góc nhìn Công Giáo, cho biết người Công Giáo nên đặc biệt chú ý đến Canada, nơi việc Hỗ trợ Y tế trong Việc Chết (MAID) đã được hợp pháp hóa trên toàn quốc vào năm 2016.
Cuộc tranh luận trở nên đặc biệt nổi bật ở British Columbia, nơi các cơ sở chăm sóc sức khỏe Công Giáo phải đối diện với những câu hỏi về việc liệu họ có thể duy trì trạng thái không có MAID trong khi vẫn tham gia vào hệ thống y tế công cộng hay không. Một báo cáo của chính phủ năm 2024 cũng đặt ra câu hỏi về việc thực hiện hình thức này, phát hiện ra rằng hơn một nửa số trường hợp MAID được xem xét trong tỉnh có liên quan đến những sai sót cần điều tra thêm, bao gồm hàng trăm trường hợp gây lo ngại về việc tuân thủ.
“May mắn thay, Hoa Kỳ không phải là Canada,” Meaney nói, “nhưng tôi lo sợ vì những gì đang xảy ra ở đó phần nào cho bạn một ấn tượng về hướng đi của mọi thứ ở Hoa Kỳ.”
Mặc dù Hoa Kỳ có luật bảo vệ tự do tôn giáo mạnh mẽ hơn, Meaney cho biết các tổ chức Công Giáo vẫn đang chịu “áp lực ngày càng tăng” để tham gia vào các hệ thống hỗ trợ tự tử, bao gồm cả việc giới thiệu đến các nhà cung cấp dịch vụ này. Ông mô tả sự tham gia đó là một phần của phong trào lớn hơn mà theo ông, “giết chết bệnh nhân thay vì khẳng định phẩm giá của họ”.
“Sống và chết một cách tốt đẹp”
Những lạm dụng được phát hiện trong một số bộ phận của ngành chăm sóc người hấp hối không chỉ gây hại cho bệnh nhân và gia đình; mà còn làm tổn hại lòng tin vào các nhà cung cấp vẫn cam kết với sứ mệnh ban đầu của chăm sóc người hấp hối là tôn trọng phẩm giá con người.
Đối với các tổ chức chăm sóc người hấp hối Công Giáo, việc bảo tồn sứ mệnh đó có nghĩa là giúp các gia đình hiểu chăm sóc người hấp hối như một hình thức chăm sóc tập trung vào sự đồng hành và hỗ trợ tinh thần vào giai đoạn cuối đời. Lynn Grandon, Giám đốc điều hành tạm thời của Emmaus Catholic Hospice ở Greenwood Village, Colorado, mô tả chăm sóc người hấp hối toàn diện là “lựa chọn thánh thiện” thay thế cho việc tự tử có sự hỗ trợ của bác sĩ.
Tầm nhìn đó định hình công việc của Emmaus, một nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc người hấp hối tại nhà phi lợi nhuận dựa trên đức tin, phục vụ gần 200 bệnh nhân thông qua một nhóm các bác sĩ, y tá, nhân viên xã hội, tình nguyện viên và linh mục. Grandon cho biết bản sắc Công Giáo của tổ chức ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cách tiếp cận chăm sóc của họ.
“Điều làm cho chăm sóc người hấp hối Công Giáo khác biệt,” bà nói, “Điều đó có nghĩa là bạn đang chăm sóc toàn diện cho con người. Chúng ta biết rằng thế giới này không phải là nhà của chúng ta, vì vậy chúng ta muốn chuẩn bị cho [bệnh nhân] ngôi nhà vĩnh cửu của họ trên thiên đường.”
Sơ Maria Chúa Ba Ngôi, một y tá đã đăng ký và là người sáng lập Tổ chức Tin Mừng Sự Sống + Nơi Ở (GOLD), đã chứng kiến những câu hỏi đó nảy sinh trong công việc chăm sóc những người dễ bị tổn thương ở giai đoạn cuối đời của mình. Thông qua các cơ sở ở Moore, Oklahoma và Grand Prairie, Texas, GOLD cung cấp dịch vụ chăm sóc và nhà ở cho người già và người nghèo, những người có thể phải đối diện với cái chết một mình, đồng thời hợp tác với các cơ quan chăm sóc người hấp hối thay vì tự mình hoạt động như một nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc người hấp hối.
Sơ Maria cho biết những câu chuyện về gian lận và lạm dụng đã khiến một số người — bao gồm cả một số người Công Giáo — nhìn nhận dịch vụ chăm sóc người hấp hối với sự nghi ngờ hoặc thậm chí bác bỏ hoàn toàn nó như “một phương tiện để giết chết người thân yêu.”
“Bạn không thể vứt bỏ cả đứa bé cùng với nước tắm,” bà nói. “Chúng ta cần dịch vụ chăm sóc người hấp hối tốt, và chúng ta cần tham gia vào cuộc thảo luận xung quanh các lựa chọn chăm sóc sức khỏe của mọi người.”
Bà lập luận rằng cách tiếp cận này phản ánh truyền thống lâu đời của Giáo Hội Công Giáo trong việc chăm sóc người bệnh và người sắp qua đời, lưu ý rằng “nguồn gốc của chăm sóc người hấp hối hiện đại xuất phát từ truyền thống của Giáo hội” và việc đồng hành cùng người sắp qua đời có nghĩa là nhận ra rằng “sống và chết tốt là một phần kinh nghiệm của con người chúng ta”, bắt nguồn từ “cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa chúng ta”.
Đối với các gia đình lựa chọn chăm sóc giảm nhẹ, Grandon nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lập kế hoạch trước, đặc biệt là bằng cách chuẩn bị giấy ủy quyền y tế: một chỉ thị trước cho phép người được chỉ định đưa ra các quyết định y tế nếu bệnh nhân không còn khả năng tự làm điều đó.
“Giấy ủy quyền y tế vô cùng quan trọng,” Grandon nói. “Bạn có một người biết bệnh nhân và hiểu được mong muốn và nguyện vọng của họ về việc được chăm sóc theo tinh thần Công Giáo vào cuối đời.”
Bà cũng cảnh báo các gia đình nên xem xét kỹ hơn những thông tin chung chung trong tài liệu và hiểu rõ cách tiếp cận của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc cuối đời.
Hiện tại, không có danh bạ tập trung nào về các cơ sở và tổ chức chăm sóc người hấp hối Công Giáo. Trong khi một số giáo phận ở các tiểu bang nơi việc hỗ trợ tự tử bởi bác sĩ là hợp pháp không liệt kê cụ thể các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc người hấp hối Công Giáo trên trang web của họ, thì những giáo phận khác đã phát triển các trang tài nguyên về chăm sóc cuối đời bao gồm cả việc giới thiệu các dịch vụ chăm sóc người hấp hối, bao gồm cả Tổng giáo phận New York và Tổng giáo phận Denver. Một số cơ quan từ thiện Công Giáo cũng duy trì các nguồn tài nguyên tương tự về chăm sóc cuối đời.
Khi lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc người hấp hối, các gia đình có thể đặt những câu hỏi quan trọng về cách tiếp cận của tổ chức đối với việc chăm sóc cuối đời, bao gồm cả việc họ có tham gia vào việc hỗ trợ tự tử bởi bác sĩ hay không, triết lý của họ về quản lý cơn đau và liệu các thực hành của họ có phù hợp với sự hiểu biết khẳng định sự sống của con người hay không.

Mục tiêu, những người ủng hộ nhấn mạnh, không phải là bác bỏ dịch vụ chăm sóc người hấp hối vì những lạm dụng đã xảy ra, mà là để đảm bảo bệnh nhân nhận được sự chăm sóc tôn trọng phẩm giá của họ và đồng hành cùng họ trong quá trình hấp hối tự nhiên.
Đối với Grandon, tác động của sự đồng hành đó có thể thấy rõ trong những câu chuyện mà gia đình để lại. Bà nhớ lại một bệnh nhân của Emmaus, một cựu chiến binh, người đã được tổ chức một buổi lễ đặc biệt để tôn vinh sự phục vụ của ông trước khi qua đời. Trong thời gian gia đình đau buồn, người thân chia sẻ rằng nhờ sự chăm sóc mà cha họ nhận được, cả gia đình họ đã quay trở lại với đức tin Công Giáo.
“Chỉ có Chúa mới có quyền năng trên sự sống và cái chết, và chúng ta không nên đẩy nhanh cái chết,” bà nói. “Nhưng niềm vui của chúng ta là biết rằng Chúa đã kêu gọi chúng ta đến với sứ mệnh này, và chúng ta biết rằng càng tăm tối, ánh sáng của chúng ta càng tỏa sáng rực rỡ hơn.”
Năm điều mà Đức Giáo Hoàng Lêô muốn nhắn nhủ với những người lớn tuổi
Thanh Quảng sdb
17:23 27/07/2026
Năm điều mà Đức Giáo Hoàng Lêô muốn nhắn nhủ với những người lớn tuổi

Alberto Pizzoli (Ateleia)
Trong Thông điệp mà Đức Giáo Hoàng Lêô chia sẻ năm cách nhìn mới mẻ về tuổi già - không phải là sự kết thúc, mà là một mùa vẫn tràn đầy hy vọng.
Tuổi già không phải lúc nào cũng dễ đề cập đến. Chúng ta tổ chức sinh nhật, nói đùa về tuổi cao niên, chúc mừng những người nghỉ hưu và rồi, gần như không nhận ra, chúng ta bắt đầu coi cuộc sống mai hậu như một kết thúc dài hơn là một chương vẫn đang được tiếp nối.
Thông điệp của Đức Giáo Hoàng Lêô nhân Ngày Thế giới dành cho Ông Bà và Người Cao Niên năm nay nhẹ nhàng thách đố ý tưởng đó. Vâng, ngài khuyến khích những người trẻ "khôi phục lại phong tục tốt đẹp là thăm viếng ông bà, những người lớn tuổi trong gia đình và cả những người không có ai đến thăm". Nhưng sau đó, ngài làm một điều khác thường hơn nhiều. Ngài ngừng nói về người lớn tuổi và bắt đầu nói chuyện trực tiếp với họ.
Thông điệp của ngài tràn đầy hy vọng, không phải vì nó bỏ qua thực tế của tuổi già, mà vì nó không để họ có tư tưởng giã từ. Và đây là năm lời nhắc nhở thiết yếu của ĐTC:
1. Bạn không bị lãng quên
Một trong những nỗi sợ thầm kín của tuổi già là cảm giác trở nên ít được chú ý hơn. Con cái lớn lên, sự nghiệp kết thúc, các mối quan hệ xã hội thu hẹp lại, và đôi khi dường như thế giới vẫn tiếp diễn mà không cần bạn.
Đức Giáo Hoàng Lêô không quên rằng nỗi sợ hãi đó không tồn tại. Trên thực tế, ngài đã gọi tên nó, và viết rằng "cảm giác đau đớn khi bị lãng quên, thật không may, là điều mà nhiều người cùng trải qua, và trong số đó có khá nhiều người cao niên."
Sau đó, ngài đáp lại bằng lời hứa của chính Chúa: "Ta sẽ không bao giờ quên con."
Năm đều này trở thành nhịp đập của toàn bộ thông điệp.
2. Bạn hơn cả tuổi tác của mình
Một trong những đoạn văn mạnh mẽ nhất trong thông diệp cũng là một trong những đoạn buồn nhất. Đức Giáo Hoàng Lêô nói về những cuộc đời "dường như bị che phủ bởi một tấm màn làm mờ đi những đường nét trên khuôn mặt và nhấn chìm họ trong quên lãng," ngài cảnh báo rằng "sự độc đáo của mỗi người có nguy cơ bị thu hẹp lại thành một con số giường bệnh hoặc một căn bệnh."
Bất cứ ai đã chứng kiến người thân của mình già đi đều sẽ nhận ra thực tại phũ phàng này. Tuổi tác, bệnh tật hay sự yếu đuối có thể bắt đầu che khuất chính con người. Đức Giáo Hoàng lặng lẽ phản bác lại cách nhìn nhận đó. Trên hết, người lớn tuổi vẫn là con cái của Chúa.
3. Không bao giờ là quá muộn cho một khởi đầu mới
Chúng ta thường liên tưởng đến những khởi đầu mới với tuổi trẻ: Công việc đầu tiên, ngôi nhà đầu tiên, đứa con đầu lòng. Đức Giáo Hoàng Lêô nói rằng đức tin không nhất thiết phải tuân theo các mốc điểm thời gian đó.
Ngài nhận xét rằng nhiều người đạt đến tuổi già "mà chưa từng có trải nghiệm đức tin đích thực", trước khi ĐTC nói thêm rằng cuộc sống sau này "có thể là thời điểm thích hợp để bắt đầu hoặc tiếp tục hành trình đời sống tâm linh".
Đó là một suy tư đầy hy vọng. Chúng ta dành phần lớn cuộc đời với xác tín rằng một số cơ hội đã vụt qua. Đức Giáo Hoàng Lêô nhắc nhở chúng ta rằng lời mời gọi của Chúa không có hạn và cánh cửa của Ngài không bao giờ đóng lại.
4. Đừng sợ sự yếu đuối
Cuộc sống hiện đại dành rất nhiều năng lượng để phủ lấp đi những yếu điểm. Chúng ta tôn vinh sự độc lập, năng suất và sự bận rộn. Tuổi già thường nhắc nhở chúng ta rằng không có điều gì trong số đó kéo dài mãi mãi. Mặc dù Đức Giáo Hoàng Lêô không đưa ra những câu trả lời dễ dàng, nhưng ngài đề ra những lời trấn an: "Đừng sợ sự yếu đuối!"
Suy ngẫm về cuộc trò chuyện của Chúa Giêsu với ông Nicôđêm, Chúa còn nói về việc được "tái sinh" ở tuổi già. Đó là một lời nhắc nhở tuyệt vời rằng sự phát triển tâm linh không chỉ dành cho người trẻ.
5. Những lời cầu nguyện của bạn vẫn rất quan trọng..!
Thông điệp của Đức Giáo Hoàng kết thúc theo một cách mà nhiều độc giả có thể không ngờ tới. Nhìn vào một thế giới bị tàn phá bởi chiến tranh và bất ổn, Đức Giáo Hoàng Lêô không chỉ đơn giản yêu cầu người lớn tuổi kiên trì. Ngài yêu cầu họ cùng ngài cầu nguyện tha thiết cho hòa bình, trước khi cảm ơn họ vì những lời cầu nguyện mà họ đã dâng lên, đặc biệt là qua những tràng chuỗi Mân Côi.
Đó là một kết luận thích hợp bởi vì nó để lại cho người lớn tuổi điều gì quý giá hơn nhiều so với sự cảm thông. Nó để lại cho họ mục đích sống.
Đọc từ đầu đến cuối, thông điệp của Đức Giáo Hoàng Lêô lặng lẽ đảo ngược nhiều giả định của chúng ta về tuổi già. Thay vì miêu tả tuổi già như một sự rút lui dần khỏi cuộc sống, ngài trình bày nó như một thời điểm mà lời hứa của Chúa vẫn còn đó, đức tin vẫn có thể phát triển, và mỗi người vẫn được biết đến, yêu thương và không bao giờ bị lãng quên.

Alberto Pizzoli (Ateleia)
Trong Thông điệp mà Đức Giáo Hoàng Lêô chia sẻ năm cách nhìn mới mẻ về tuổi già - không phải là sự kết thúc, mà là một mùa vẫn tràn đầy hy vọng.
Tuổi già không phải lúc nào cũng dễ đề cập đến. Chúng ta tổ chức sinh nhật, nói đùa về tuổi cao niên, chúc mừng những người nghỉ hưu và rồi, gần như không nhận ra, chúng ta bắt đầu coi cuộc sống mai hậu như một kết thúc dài hơn là một chương vẫn đang được tiếp nối.
Thông điệp của Đức Giáo Hoàng Lêô nhân Ngày Thế giới dành cho Ông Bà và Người Cao Niên năm nay nhẹ nhàng thách đố ý tưởng đó. Vâng, ngài khuyến khích những người trẻ "khôi phục lại phong tục tốt đẹp là thăm viếng ông bà, những người lớn tuổi trong gia đình và cả những người không có ai đến thăm". Nhưng sau đó, ngài làm một điều khác thường hơn nhiều. Ngài ngừng nói về người lớn tuổi và bắt đầu nói chuyện trực tiếp với họ.
Thông điệp của ngài tràn đầy hy vọng, không phải vì nó bỏ qua thực tế của tuổi già, mà vì nó không để họ có tư tưởng giã từ. Và đây là năm lời nhắc nhở thiết yếu của ĐTC:
1. Bạn không bị lãng quên
Một trong những nỗi sợ thầm kín của tuổi già là cảm giác trở nên ít được chú ý hơn. Con cái lớn lên, sự nghiệp kết thúc, các mối quan hệ xã hội thu hẹp lại, và đôi khi dường như thế giới vẫn tiếp diễn mà không cần bạn.
Đức Giáo Hoàng Lêô không quên rằng nỗi sợ hãi đó không tồn tại. Trên thực tế, ngài đã gọi tên nó, và viết rằng "cảm giác đau đớn khi bị lãng quên, thật không may, là điều mà nhiều người cùng trải qua, và trong số đó có khá nhiều người cao niên."
Sau đó, ngài đáp lại bằng lời hứa của chính Chúa: "Ta sẽ không bao giờ quên con."
Năm đều này trở thành nhịp đập của toàn bộ thông điệp.
2. Bạn hơn cả tuổi tác của mình
Một trong những đoạn văn mạnh mẽ nhất trong thông diệp cũng là một trong những đoạn buồn nhất. Đức Giáo Hoàng Lêô nói về những cuộc đời "dường như bị che phủ bởi một tấm màn làm mờ đi những đường nét trên khuôn mặt và nhấn chìm họ trong quên lãng," ngài cảnh báo rằng "sự độc đáo của mỗi người có nguy cơ bị thu hẹp lại thành một con số giường bệnh hoặc một căn bệnh."
Bất cứ ai đã chứng kiến người thân của mình già đi đều sẽ nhận ra thực tại phũ phàng này. Tuổi tác, bệnh tật hay sự yếu đuối có thể bắt đầu che khuất chính con người. Đức Giáo Hoàng lặng lẽ phản bác lại cách nhìn nhận đó. Trên hết, người lớn tuổi vẫn là con cái của Chúa.
3. Không bao giờ là quá muộn cho một khởi đầu mới
Chúng ta thường liên tưởng đến những khởi đầu mới với tuổi trẻ: Công việc đầu tiên, ngôi nhà đầu tiên, đứa con đầu lòng. Đức Giáo Hoàng Lêô nói rằng đức tin không nhất thiết phải tuân theo các mốc điểm thời gian đó.
Ngài nhận xét rằng nhiều người đạt đến tuổi già "mà chưa từng có trải nghiệm đức tin đích thực", trước khi ĐTC nói thêm rằng cuộc sống sau này "có thể là thời điểm thích hợp để bắt đầu hoặc tiếp tục hành trình đời sống tâm linh".
Đó là một suy tư đầy hy vọng. Chúng ta dành phần lớn cuộc đời với xác tín rằng một số cơ hội đã vụt qua. Đức Giáo Hoàng Lêô nhắc nhở chúng ta rằng lời mời gọi của Chúa không có hạn và cánh cửa của Ngài không bao giờ đóng lại.
4. Đừng sợ sự yếu đuối
Cuộc sống hiện đại dành rất nhiều năng lượng để phủ lấp đi những yếu điểm. Chúng ta tôn vinh sự độc lập, năng suất và sự bận rộn. Tuổi già thường nhắc nhở chúng ta rằng không có điều gì trong số đó kéo dài mãi mãi. Mặc dù Đức Giáo Hoàng Lêô không đưa ra những câu trả lời dễ dàng, nhưng ngài đề ra những lời trấn an: "Đừng sợ sự yếu đuối!"
Suy ngẫm về cuộc trò chuyện của Chúa Giêsu với ông Nicôđêm, Chúa còn nói về việc được "tái sinh" ở tuổi già. Đó là một lời nhắc nhở tuyệt vời rằng sự phát triển tâm linh không chỉ dành cho người trẻ.
5. Những lời cầu nguyện của bạn vẫn rất quan trọng..!
Thông điệp của Đức Giáo Hoàng kết thúc theo một cách mà nhiều độc giả có thể không ngờ tới. Nhìn vào một thế giới bị tàn phá bởi chiến tranh và bất ổn, Đức Giáo Hoàng Lêô không chỉ đơn giản yêu cầu người lớn tuổi kiên trì. Ngài yêu cầu họ cùng ngài cầu nguyện tha thiết cho hòa bình, trước khi cảm ơn họ vì những lời cầu nguyện mà họ đã dâng lên, đặc biệt là qua những tràng chuỗi Mân Côi.
Đó là một kết luận thích hợp bởi vì nó để lại cho người lớn tuổi điều gì quý giá hơn nhiều so với sự cảm thông. Nó để lại cho họ mục đích sống.
Đọc từ đầu đến cuối, thông điệp của Đức Giáo Hoàng Lêô lặng lẽ đảo ngược nhiều giả định của chúng ta về tuổi già. Thay vì miêu tả tuổi già như một sự rút lui dần khỏi cuộc sống, ngài trình bày nó như một thời điểm mà lời hứa của Chúa vẫn còn đó, đức tin vẫn có thể phát triển, và mỗi người vẫn được biết đến, yêu thương và không bao giờ bị lãng quên.
Các tu sĩ theo phái Sedevacantist người Scotland đã thực hiện lễ tấn phong giám mục bất hợp pháp bất chấp những cảnh báo về nguy cơ ly giáo
Đặng Tự Do
17:47 27/07/2026
Một nhóm tu sĩ theo phái sedevacantist ở Scotland đã tổ chức một lễ tấn phong "giám mục" bất hợp pháp vào ngày 25 tháng 7, bất chấp những cảnh báo lặp đi lặp lại rằng làm như vậy sẽ cấu thành hành vi ly giáo và đoạn tuyệt với Giáo Hội Công Giáo.
Phái Sedevacantist là gì? Thưa phái Sedevacantist còn gọi là phái trống tòa là một nhóm người theo chủ nghĩa truyền thống Công Giáo tin rằng Tòa Thánh Rôma đang trống ngôi và các giáo hoàng từ sau Công đồng Vatican II (1962–1965) không phải là giáo hoàng đích thực. Thuật ngữ này bắt nguồn từ cụm từ tiếng Latinh sede vacante, có nghĩa là "trống tòa". Cụ thể, phái này tin rằng Đức Giáo Hoàng Piô thứ 12 là vị Giáo Hoàng sau cùng. Sau ngài, Giáo Hội rơi vào tình trạng trống ngôi Giáo Hoàng.
Các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế xuyên dãy Alps, hay còn gọi là Con Trai của Đấng Cứu Chuộc Chí Thánh, đã phát trực tiếp buổi lễ giả mạo này từ tu viện của họ trên đảo Papa Stronsay, một hòn đảo thuộc quần đảo Orkney ở Scotland.
Giám mục Hugh Gilbert của Aberdeen đã cảnh báo trong một thư mục vụ ngày 18 tháng 7 rằng việc tấn phong Giám Mục sẽ cấu thành một "hành động ly giáo" và "đưa những người tham gia vào đó ra khỏi Giáo Hội Công Giáo".
Buổi lễ được cử hành bởi các Giám mục Rodrigo Ribeiro da Silva, Fernando Altamira và Pierre Roy. Đức Cha Gilbert gọi ba vị này là "các giám mục không được ủy quyền đến từ Mỹ Châu". Trong lễ tấn phong giả mạo này Cha Michael Mary, một linh mục thuộc dòng tu và là bề trên của dòng, đã được tấn phong Giám Mục
Đầu năm 2026, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế vùng Alps đã công khai phủ nhận tính hợp pháp của Đức Giáo Hoàng hiện đại. Vào tháng 5, họ đã đưa ra một tuyên bố theo phái sedevacantist, khẳng định rằng họ sẽ "không công nhận về mặt pháp lý" Đức Giáo Hoàng Lêô XIV và các Đức Giáo Hoàng khác đã "rời bỏ" đức tin trong những thập niên kể từ Công đồng Vatican II.
Ba vị giám mục thực hiện nghi thức tấn phong trên danh nghĩa cũng được tường trình theo phái sedevacantist.
Trước đó, vào tháng Sáu, Giám mục Gilbert đã cảnh báo về buổi lễ thánh hiến, lưu ý rằng sự kiện này "sẽ được cử hành mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng" và sẽ là "bất hợp pháp và là một hành vi bất tuân nghiêm trọng".
Ngay cả trước một số tranh cãi vào năm 2026, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế vùng Alps đã vướng vào các tranh chấp liên quan đến vi phạm giáo luật.
Tháng 8 năm 2025, Vatican cho phép Giáo phận Christchurch cấm dòng tu này thực hiện các hoạt động mục vụ công khai trong giáo phận đó giữa những cáo buộc về việc trừ tà trái phép.
Đức Cha Michael Gielen của Christchurch đã nói vào tháng 7 năm 2024 rằng cộng đồng này đã được Giám mục người Úc Robert McGuckin viếng thăm.
Đức Cha Michael Gielen đã tước bỏ quyền hành mục vụ của các thành viên theo khuyến nghị của Vatican và cũng yêu cầu nhóm này "rời khỏi Giáo phận Christchurch".
Source:EWTN News
Tìm hiểu tiến trình tuyên thánh. Trường hợp của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận
Đặng Tự Do
17:50 27/07/2026
Đức Ông Robert Sarno, chuyên gia phục vụ trong Bộ Tuyên Thánh suốt 38 năm, sau khi đã là linh mục của giáo phận Brooklyn Hoa Kỳ, có bài viết nhan đề "Saints", nghĩa là "Các Thánh" được đăng trên web site của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ.
Trong năm thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, quá trình công nhận một vị thánh dựa trên sự tung hô của công chúng, nghĩa là dựa trên nguyên tắc vox populi, vox Dei - tiếng nói của người dân, tiếng nói của Chúa. Không có quá trình chính thức nào giống với các tiêu chuẩn chúng ta thấy ngày nay. Bắt đầu từ thế kỷ thứ sáu và kéo dài đến thế kỷ thứ mười hai, cần có sự can thiệp của giám mục địa phương trước khi một ai đó có thể được tuyên thánh. Sự can thiệp của Đức Giám Mục bản quyền thường bắt đầu bằng yêu cầu của cộng đồng địa phương xin Đức Giám Mục địa phương công nhận một ai đó là thánh. Sau khi nghiên cứu yêu cầu và tiểu sử viết tay, nếu thấy thuận lợi, Đức Giám Mục thường sẽ ban hành sắc lệnh, hợp pháp hóa nghi lễ phụng vụ và do đó tuyên thánh cho người đó.
Bắt đầu từ thế kỷ thứ mười, án tuyên thánh được tiến hành theo các bước như sau: danh tiếng của người đó lan rộng, có yêu cầu từ người dân xin giám mục địa phương tuyên bố người đó là thánh, và tiểu sử được viết ra để giám mục xem xét. Tuy nhiên, hiện nay, giám mục sẽ thu thập lời khai của những người biết người đó và những người đã chứng kiến phép lạ, và ngài sẽ cung cấp tóm tắt về vụ việc cho Đức Giáo Hoàng để vị mục tử toàn thể Hội Thánh chấp thuận. Sau đó, Đức Giáo Hoàng xem xét nguyên nhân, và nếu chấp thuận, ngài sẽ ban hành sắc lệnh tuyên bố người đó là thánh. Trường hợp đầu tiên được ghi chép về án tuyên thánh do một Giáo Hoàng chuẩn y là khi Đức Giáo Hoàng Gioan 15 vào ngày 31 Tháng Giêng năm 993 tuyên thánh cho Thánh Ulric. Khi Đức Giáo Hoàng Sixtô Đệ Ngũ tổ chức lại Giáo triều Rôma vào năm 1588, ngài đã thành lập Bộ Nghi lễ Thánh. Một trong những chức năng của bộ này là hỗ trợ Đức Giáo Hoàng xem xét các án tuyên thánh. Ngoại trừ một số cập nhật cho phù hợp với giáo luật, từ năm 1588, quá trình tuyên thánh vẫn như vậy cho đến năm 1917 khi Bộ Giáo luật phổ quát được ban hành.
Bộ luật năm 1917 bao gồm 145 điều luật (từ số 1999 đến số 2144) về án tuyên thánh, và yêu cầu phải tiến hành một quá trình giám mục và một quá trình tông tòa. Tiến trình giám mục bao gồm giám mục địa phương xác minh danh tiếng của người đó, bảo đảm rằng có tiểu sử rõ ràng, thu thập lời khai của nhân chứng và các tác phẩm do người đó viết ra. Tất cả những điều này sau đó được chuyển đến Bộ Nghi lễ Thánh. Tiến trình tông tòa bao gồm xem xét các bằng chứng được nộp, thu thập thêm bằng chứng, nghiên cứu án tuyên thánh, điều tra bất kỳ phép lạ nào được cho là đã xảy ra và cuối cùng chuyển án tuyên thánh lên Đức Giáo Hoàng để ngài chấp thuận.
Tiến trình này vẫn có hiệu lực cho đến năm 1983 với việc ban hành Bộ Giáo luật năm 1983 và các chuẩn mực mới cho các nguyên nhân tuyên thánh: Divinus Perfectionis Magister, Normae Servandae in Inquisitionibus ab Episcopis Faciendis in Causis Sanctorum và Sanctorum Mater, hay 2007. Tiến trình sửa đổi vào năm 1983 này cho các án tuyên thánh vẫn có hiệu lực cho đến nay và được trình bày chi tiết bên dưới.
Không có số lượng chính xác những người đã được tuyên thánh kể từ những thế kỷ đầu tiên. Tuy nhiên, vào năm 1988, để đánh dấu 400 năm thành lập, Bộ Tuyên Thánh đã xuất bản "Index ac Status Causarum" đầu tiên. Cuốn sách này và các phần bổ sung sau đó, được viết hoàn toàn bằng tiếng Latin, được coi là chỉ mục chính thức của tất cả các vụ án đã được trình lên Bộ kể từ khi thành lập.
Tiến trình tuyên thánh từ năm 1983 bao gồm các bước sau:
Giai đoạn I – Khảo sát cuộc đời của một ứng viên tuyên thánh ở cấp Giáo phận (hoặc Giáo phận chính thống Đông phương)
Phải mất năm năm kể từ thời điểm ứng viên qua đời trước khi án tuyên thánh có thể bắt đầu. Điều này là để cho phép cân bằng và khách quan hơn trong việc đánh giá trường hợp và để cho cảm xúc của thời điểm người ấy qua đời tan biến. Đức Giáo Hoàng có thể miễn trừ thời gian chờ đợi này.
Giám mục của giáo phận nơi người đó qua đời có trách nhiệm bắt đầu cuộc điều tra. Người thỉnh cầu (có thể là giáo phận, giám mục, dòng tu hoặc hiệp hội tín hữu) yêu cầu giám mục thông qua một người được gọi là Postulator hay cáo thỉnh viên, là người đề nghị mở cuộc điều tra.
Sau đó, giám mục bắt đầu một loạt các cuộc tham khảo ý kiến với hội đồng giám mục, các tín hữu trong giáo phận của mình và Tòa thánh. Sau khi các cuộc tham khảo ý kiến này hoàn tất và ngài đã nhận được ý kiến "nihil obstat", nghĩa là "không có gì ngăn trở" từ Tòa thánh, ngài sẽ thành lập một tòa án cấp giáo phận cho án tuyên thánh. Tòa án sẽ điều tra về sự tử đạo hoặc cách ứng viên sống một cuộc sống với các nhân đức anh hùng, tức là các nhân đức đối thần về đức tin, đức cậy và đức mến, và các nhân đức cốt yếu về sự khôn ngoan, công bằng, tiết độ và lòng dũng cảm, và những nhân đức khác cụ thể đối với tình trạng sống của ứng viên. Các nhân chứng sẽ được triệu tập và các tài liệu do ứng viên viết và các tài liệu về ứng viên phải được thu thập và xem xét.
Giai đoạn II: Bộ Tuyên thánh
Sau khi cuộc điều tra của giáo phận hoàn tất, tài liệu sẽ được gửi đến Bộ Tuyên thánh. Ứng viên có thể được gọi là "Servus Dei" hay vị "Tôi Tớ Chúa".
Người thỉnh nguyện cho giai đoạn này, cư trú tại Rôma, dưới sự chỉ đạo của một thành viên trong đội ngũ nhân viên của Bộ. Người thỉnh nguyện sống ở Rôma này cũng được gọi là Postulator hay cáo thỉnh viên ở cấp Tòa Thánh, chuẩn bị một 'Positio', nghĩa là một bản tóm tắt bằng chứng tài liệu từ giai đoạn giáo phận để chứng minh việc thực hành đức hạnh anh hùng hoặc sự tử đạo.
'Positio' trải qua một cuộc kiểm tra của chín nhà thần học bỏ phiếu về việc ứng viên có sống một cuộc sống anh hùng hay chịu tử đạo hay không. Nếu phần lớn các nhà thần học ủng hộ, thì án tuyên thánh được chuyển lên để các Hồng Y và giám mục là thành viên của Hội đồng thẩm định. Nếu phán quyết của các ngài là thuận lợi, thì vị trưởng Hội đồng sẽ trình bày kết quả của toàn bộ quá trình của án tuyên thánh lên Đức Giáo Hoàng, là người sẽ chấp thuận và ủy quyền cho Hội đồng soạn thảo một sắc lệnh tuyên bố một người là Venerabilis – hay Bậc đáng kính nếu họ đã sống một cuộc sống đức hạnh.
Trường hợp của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh ngày 17 tháng 4 năm 1928, tại Huế, thuộc dòng họ có truyền thống Công Giáo lâu đời. Ngài qua đời ngày 16 tháng 9 năm 2002 và được toàn thế giới biết đến là một bậc chân tu cao cấp của Giáo Hội Công Giáo Rôma, người Việt Nam. Ngài nổi tiếng trên toàn thế giới như một "chứng nhân của hy vọng", để lại dấu ấn sâu sắc qua đức tin kiên định, tinh thần tha thứ và các tác phẩm linh đạo giá trị.
Ngài từng giữ chức Giám mục Giáo phận Nha Trang từ 1967 đến 1975 và sau đó là Tổng Giám mục Phó Tổng giáo phận Sài Gòn.
Sau năm 1975, ngài trải qua 13 năm kiên giam, trong đó có 9 năm biệt giam.
Trong thời gian lao tù, ngài âm thầm cử hành Thánh lễ trên lòng bàn tay với vài giọt rượu và mẩu bánh mì vụn do gia đình gửi vào.
Năm 1998, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình.
Ngài được vinh thăng Hồng Y vào năm 2001.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài là cuốn Đường Hy Vọng (viết trên những mảnh giấy nhỏ trong tù) và tập sách Toát yếu Giáo lý Xã hội của Giáo hội do ngài chỉ đạo biên soạn với tư cách là Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình.
Ngày 4 Tháng Năm, 2017, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên ngài là Đấng Đáng Kính.
Giai đoạn III – Phong chân phước
Đối với việc phong chân phước cho một vị đáng kính, cần phải có một phép lạ được cho là do sự chuyển cầu của ngài, được xác minh sau khi ngài qua đời. Phép lạ cần thiết phải được chứng minh thông qua cuộc điều tra giáo luật thích hợp, theo một thủ tục tương tự như đối với các nhân đức anh hùng. Cuộc điều tra này cũng được kết thúc bằng sắc lệnh thích hợp. Sau khi sắc lệnh về phép lạ được công bố, Đức Giáo Hoàng sẽ ban hành lệnh phong chân phước, tức là cho phép việc tôn kính công khai có giới hạn - thường chỉ trong phạm vi quốc gia, giáo phận, vùng hoặc cộng đồng tôn giáo nơi vị chân phước đã sống. Với quyết định này, ứng viên sẽ nhận được danh hiệu Chân phước hay Á Thánh.
Đối với một vị tử đạo, không cần phép lạ. Do đó, khi Đức Giáo Hoàng chấp thuận positio tuyên bố rằng người đó đã tử đạo vì đức tin, thì danh hiệu Chân phước sẽ được ban cho vị tử đạo tại thời điểm đó.
Trong trường hợp của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, giờ đây, cần có 1 phép lạ do lời cầu bầu của ngài để được tuyên Chân Phước; và sau đó cần có một phép lạ thứ hai xảy ra sau giai đoạn Chân Phước để được tuyên thánh.
Vì thế, tin cho rằng tin cho rằng Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận sắp được tuyên thánh là tin giả, được những kẻ dốt nát tung ra. Anh chị em hãy cẩn thận.
Giai đoạn IV – Tuyên thánh
Để tuyên thánh, cần có một phép lạ khác cho cả các vị chân phước tử đạo và các vị chân phước đã sống một cuộc đời đức hạnh. Phép lạ này được cho là nhờ sự chuyển cầu của vị chân phước và đã xảy ra sau khi được phong chân phước.
Các phương pháp để khẳng định phép lạ cũng giống như các phương pháp được áp dụng để phong chân phước. Việc tuyên thánh cho phép Giáo hội hoàn vũ tôn kính vị thánh một cách công khai. Với việc tuyên thánh, vị chân phước sẽ có được danh hiệu là Sanctus hay là Thánh.
Đức Ông Robert Sarno
Bộ Tuyên thánh
Thành phố Vatican
Tin Giáo Hội Việt Nam
Ta sẽ không bao giờ quên ngươi
Lý Nhân
16:54 27/07/2026
Sáng Chúa Nhật, ngày 26/7/2026,
Photos:
Giáo xứ Lý Nhân, Tổng giáo phận Hà Nội long trọng cử hành Thánh lễ Chúa Nhật XVII Thường Niên A, đồng thời mừng Ngày Thế giới Ông bà lần thứ VI với chủ đề: “Ta sẽ không bao giờ quên ngươi” (Is 49,15).
Tri ân những “kho tàng sống” của Giáo hội
Trước Thánh lễ, thay mặt thế hệ con cháu, em Giu-se Nguyễn Văn Duy gửi lời chúc mừng và tri ân tới quý ông bà, bày tỏ lòng biết ơn trước những hy sinh âm thầm, gương sáng đức tin và tình yêu thương mà các ngài đã gìn giữ, vun đắp và trao truyền cho các thế hệ con cháu.
Đại diện giới trẻ cũng bày tỏ quyết tâm luôn yêu thương, kính trọng và quan tâm đến ông bà, để các ngài luôn cảm nhận được sự ấm áp, yêu thương trong gia đình cũng như trong cộng đoàn Giáo xứ.
Lan tỏa tinh thần hiếu kính
Bước vào Thánh lễ, Cha xứ An-tôn mời gọi cộng đoàn hiệp ý cầu nguyện cách đặc biệt cho các bậc ông bà, cha mẹ luôn được Chúa gìn giữ trong bình an, ban dồi dào sức khỏe và tuôn đổ muôn ơn lành trên cuộc sống của các ngài.
Trong bài giảng lễ, Cha xứ An-tôn nhấn mạnh ý nghĩa của Ngày Thế giới Ông bà và Người cao tuổi, đồng thời mời gọi cộng đoàn sống trọn đạo hiếu qua những hành động cụ thể: biết yêu thương, kính trọng, chăm sóc và đồng hành với các bậc cao niên. Cha cũng giúp cộng đoàn nhận ra rằng tuổi già không chỉ là dấu ấn của thời gian, mà còn là kho tàng quý giá của kinh nghiệm sống, đức tin và những giá trị Tin Mừng được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Kết thúc Thánh lễ, Giáo xứ trao quà chúc mừng các bậc ông bà. Các cụ cũng gửi tặng những phần quà nhỏ đến con cháu như dấu chỉ của tình yêu thương và sự gắn kết giữa các thế hệ. Những tấm hình lưu niệm sau Thánh lễ đã khép lại ngày mừng trong niềm vui, góp phần lan tỏa tinh thần hiếu kính và yêu thương theo Tin Mừng.
BTT Gx. Lý Nhân
Photos:
Giáo xứ Lý Nhân, Tổng giáo phận Hà Nội long trọng cử hành Thánh lễ Chúa Nhật XVII Thường Niên A, đồng thời mừng Ngày Thế giới Ông bà lần thứ VI với chủ đề: “Ta sẽ không bao giờ quên ngươi” (Is 49,15).
Tri ân những “kho tàng sống” của Giáo hội
Trước Thánh lễ, thay mặt thế hệ con cháu, em Giu-se Nguyễn Văn Duy gửi lời chúc mừng và tri ân tới quý ông bà, bày tỏ lòng biết ơn trước những hy sinh âm thầm, gương sáng đức tin và tình yêu thương mà các ngài đã gìn giữ, vun đắp và trao truyền cho các thế hệ con cháu.
Đại diện giới trẻ cũng bày tỏ quyết tâm luôn yêu thương, kính trọng và quan tâm đến ông bà, để các ngài luôn cảm nhận được sự ấm áp, yêu thương trong gia đình cũng như trong cộng đoàn Giáo xứ.
Lan tỏa tinh thần hiếu kính
Bước vào Thánh lễ, Cha xứ An-tôn mời gọi cộng đoàn hiệp ý cầu nguyện cách đặc biệt cho các bậc ông bà, cha mẹ luôn được Chúa gìn giữ trong bình an, ban dồi dào sức khỏe và tuôn đổ muôn ơn lành trên cuộc sống của các ngài.
Trong bài giảng lễ, Cha xứ An-tôn nhấn mạnh ý nghĩa của Ngày Thế giới Ông bà và Người cao tuổi, đồng thời mời gọi cộng đoàn sống trọn đạo hiếu qua những hành động cụ thể: biết yêu thương, kính trọng, chăm sóc và đồng hành với các bậc cao niên. Cha cũng giúp cộng đoàn nhận ra rằng tuổi già không chỉ là dấu ấn của thời gian, mà còn là kho tàng quý giá của kinh nghiệm sống, đức tin và những giá trị Tin Mừng được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Kết thúc Thánh lễ, Giáo xứ trao quà chúc mừng các bậc ông bà. Các cụ cũng gửi tặng những phần quà nhỏ đến con cháu như dấu chỉ của tình yêu thương và sự gắn kết giữa các thế hệ. Những tấm hình lưu niệm sau Thánh lễ đã khép lại ngày mừng trong niềm vui, góp phần lan tỏa tinh thần hiếu kính và yêu thương theo Tin Mừng.
BTT Gx. Lý Nhân
Tài Liệu - Sưu Khảo
Khuôn mặt người sống dấn thân cho nếp sống nghèo.
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
16:51 27/07/2026
Khuôn mặt người sống dấn thân cho nếp sống nghèo.
Cố Linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp, cha sở họ đạo Tắc Sậy thuộc giáo phận Cân Thơ đã được Giáo hội công nhận là vị tử đạo phong lên hành Á Thánh ngày 02.07.2026 vừa qua. Đây là một biến cố thánh đức vui mừng trọng thể lớn lao cho Giáo hội Công giáo Việt Nam.
Các nơi hầu như trên thế giới, người Công giáo Việt Nam tổ chức những thánh lễ tạ ơn mừng kính Chân phước Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp.
Ngày 26.07.2026 Hội Liên Hiệp Giáo Hoàng Truyền Giáo Roma và Cộng đoàn hành hương Âu châu tổ chức hội thảo và thánh lễ tạ ơn mừng kính ở thánh địa Đức mẹ Banneux,vương quốc Bỉ.
Ban tổ chức do Cha giáo sư Toma Nguyễn đình Anh Nhuệ và cha Phaolo Huỳnh văn Chánh đứng ta điều hành ngày lễ tạ ơn này.
Đã có gần ba ngàn giáo dân từ khắp các nước Âu châu lân cận với nước Bỉ kéo về tham dự.
Có 15 linh mục Việt Nam cùng tham dự dâng thánh lễ tạ ơn với Đức Cha Frederic Pierre Rossignol, giáo mục giáo phận Tournai bên Bỉ, ngài có tên Việt nam là Trần Sĩ Hòa. Ngài là tu sĩ Dòng Chúa Thánh Thần, đã sang sinh sống làm việc dậy học nhà Dòng, cùng đi truyền giáo ở bên Việt Nam 16 năm.
Đức Cha Trần sĩ Hòa chủ sự thánh lễ tạ ơn và giảng thuyết chia sẻ lời Chúa trong thánh lễ bằng tiếng Việt Nam rất chuẩn xác cùng dí dỏm tuyệt vời. Ngài chia sẻ những kinh nghiệm sống động chính ngài đã trải qua đời sống dậy học, truyền giáo 16 năm ở Việt Nam.
Ngày xưa thuở những năm 30., 40. thế kỷ trước, cha Phanxicô Trương bửu Diệp, đã nhận sứ vụ mục tử coi sóc xứ đạo Tắc Sậy vùng xa xùng sâu nhà quê hẻo lánh, mức sống nông nghiệp nghèo nàn.
Cha Phanxicô đã dân thân cùng chia sẻ nếp sống nghèo đơn giản với mọi người nơi đây, và quyết tâm sống chết giữa xứ đạo được Thiên Chúa và Giáo hội trao phó, giữa những sóng gió thử thách đe dọa của thời cuộc lúc đó.
Thật là một nếp sống khiêm nhượng chan chứa năng lượng hy sinh truyền giáo cùng bác ái khó có thể hơn được!
Noi gương sống đó ban tổ chức đã chọn thánh địa Đức mẹ Banneux dâng thánh lễ tạ ơn mừng kính Chân phước tử đạo Phanxicô Trương bửu Diệp.
Thánh địa Banneux theo sử sách địa lý là một vùng nhà quê hẻo lánh, ít dân cư ngụ, mức sống cũng dựa trên nông nghiệp. Năm 1933 Đức mẹ Maria đã hiện ra nơi đây với cô bé Becco, và Đức Mẹ đã xưng mình là “Đức Mẹ của người nghèo”.
Lần hiện ra thứ ba với Mariette Beco, Đức mẹ đã trả lời thắc mắc của Mariette: „Ta là mẹ của người nghèo“. Với lời tự nhận đó, Đức Mẹ muốn mình ở giữa những người nghèo không chỉ về vật chất của cải tiền bạc, nhưng còn nghèo về đời sống tinh thần tâm linh nữa.
Chúa Giêsu trong bài giảng tám mối phúc thật đã ca tụng „những người có tâm hồn nghèo khó, vì nước trời là của họ.“ (Mt 3,1). Họ nghèo về vật chất, nhưng lại giầu có tinh thần, vì tin tưởng vào Chúa.
Sau biến cố Đức mẹ hiện ra, Banneux được biết đến càng càng nhiều và trở thành trung tâm đạo đức hành hương kính Đức mẹ cho mọi dân tộc khắp nơi trên thế giới. Dòng suối nước Đức mẹ Banneux ở thánh địa là dòng suối nước dânh cho mọi dân tộc, như lời Đức Mẹ nhấn nhủ: Con hãy nhúng tay vào dòng nước chữa lành ban ơn này! Từ ngày đó khách hành hương đến Banneux đều cúi mình nhúng đôi tay vào bể suối nước và lâm râm đọc kinh khấn nguyện xin Đức mẹ che chở phù hộ cho trước tòa Thiên Chúa, nguồn sự sống và bình an.
Cử chỉ nhúng tay sâu vào dòng nước nói lên tâm tình muốn gặp gỡ Chúa Giêsu là nguồn suối mọi ân đức nơi Lời của Chúa và nơi các Bí Tích. Đời sống đức tin vào Chúa cho chúng ta cùng được tham dự chia sẻ vào mầu nhiện ơn cứu chuộc của Chúa, không phải chỉ qua sự hiểu biết của lý trí, nhưng còn là lòng tin tưởng yêu mến cùng gắn bó mật thiết với Chúa nữa.
Dòng suối nước Đức Mẹ Banneux trở nên thời danh qua nhờ những phép lạ chữa bệnh, mà người tín hữu đến nhúng tay vào trong đó như Đức mẹ truyền bảo Mariette Beco: “Cho tất cả mọi dân tộc, mang lại sự yên ủi cho người đau bệnh, cho những người bị bệnh tật.“.
Dòng suối nước Đức Mẹ Banneux là dấu chỉ của lòng yêu mến Chúa dành cho mọi người.
Đức Giê-su nói: "Ai uống nước này, sẽ lại khát.14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời." (Ga 4,14.)
Ngôi thánh đường to rộng lớn với năm ngàn chỗ ngồi được xây dựng làm bằng gỗ kiến trúc đơn sơ nói lên sự nghèo hèn dâng kính Đức Mẹ Banneux, như lời Đức mẹ nhắn nhủ về đời sống cho người nghèo.
Chính tại ngôi thánh đường Đức mẹ của người nghèo, đơn giản này, thánh lễ tạ ơn mừng kính Chân phước Phanxicô Xavie Trương bửu Diệp được long trọng cử hành.
Sự trùng hợp đó theo khía cạnh tâm linh đạo đức rất thích hợp ăn khớp với đời sống đơn giản nghèo hèn của Chân Phước Phanxicô Trương xứ đạo Tắc Sậy.
Theo khía cạnh nhân văn diễn tả nếp sống hòa mình đồng cảm với nếp sống nghèo khổ người dân ngày xưa của Chân Phước Phanxicô Trương Bửu Diệp giữa họ.
Xin ca ngợi lòng kính mến chân thành cùng sống động sốt sắng Chân Phước Phanxicô Trương Bửu Diệp của người tín hữu Chúa Kitô. Vì tin tưởng rằng nhờ lời chuyển cầu bầu cử của Chân Phước Phanxicô Xavie, lời cầu khấn được Thiên Chúa nhận lời ban ơn cho đời sống chung cũng như riêng.
Mừng kính Chân phước tử đạo Phanxicô Xavie Trương bửu Diệp muốn ôn nhớ lại nếp sống đơn giản nghèo khó, cùng hy sinh hòa mình đồng cảm với con người, mà xưa kia Chân Phước Phanxicô Xavie Trương bửu Diệp đã sống làm gương.
Xin chân thành ca ngợi cùng cám ơn sự dấn thân hy sinh của Hội Liên Hiệp truyền giáo Roma do Cha Toma Nguyễn đình Anh nhuệ, và Cộng đoàn hành hương Âu châu do Cha Phaolo Huỳnh văn Chánh, đã đứng ra tổ chức ngày lễ tạ ơn mừng kính Chân Phước Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp, hôm Chúa nhật 26.07.2026 ở thánh địa Đức mẹ Banneux., được thành công tố đẹo nhuộm mầu tâm linh thánh đức.
”Xin Chân phước Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp cầu cho chúng con.”
Banneux, ngày 2].07.2026
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
Cố Linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp, cha sở họ đạo Tắc Sậy thuộc giáo phận Cân Thơ đã được Giáo hội công nhận là vị tử đạo phong lên hành Á Thánh ngày 02.07.2026 vừa qua. Đây là một biến cố thánh đức vui mừng trọng thể lớn lao cho Giáo hội Công giáo Việt Nam.
Các nơi hầu như trên thế giới, người Công giáo Việt Nam tổ chức những thánh lễ tạ ơn mừng kính Chân phước Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp.
Ngày 26.07.2026 Hội Liên Hiệp Giáo Hoàng Truyền Giáo Roma và Cộng đoàn hành hương Âu châu tổ chức hội thảo và thánh lễ tạ ơn mừng kính ở thánh địa Đức mẹ Banneux,vương quốc Bỉ.
Ban tổ chức do Cha giáo sư Toma Nguyễn đình Anh Nhuệ và cha Phaolo Huỳnh văn Chánh đứng ta điều hành ngày lễ tạ ơn này.
Đã có gần ba ngàn giáo dân từ khắp các nước Âu châu lân cận với nước Bỉ kéo về tham dự.
Có 15 linh mục Việt Nam cùng tham dự dâng thánh lễ tạ ơn với Đức Cha Frederic Pierre Rossignol, giáo mục giáo phận Tournai bên Bỉ, ngài có tên Việt nam là Trần Sĩ Hòa. Ngài là tu sĩ Dòng Chúa Thánh Thần, đã sang sinh sống làm việc dậy học nhà Dòng, cùng đi truyền giáo ở bên Việt Nam 16 năm.
Đức Cha Trần sĩ Hòa chủ sự thánh lễ tạ ơn và giảng thuyết chia sẻ lời Chúa trong thánh lễ bằng tiếng Việt Nam rất chuẩn xác cùng dí dỏm tuyệt vời. Ngài chia sẻ những kinh nghiệm sống động chính ngài đã trải qua đời sống dậy học, truyền giáo 16 năm ở Việt Nam.
Ngày xưa thuở những năm 30., 40. thế kỷ trước, cha Phanxicô Trương bửu Diệp, đã nhận sứ vụ mục tử coi sóc xứ đạo Tắc Sậy vùng xa xùng sâu nhà quê hẻo lánh, mức sống nông nghiệp nghèo nàn.
Cha Phanxicô đã dân thân cùng chia sẻ nếp sống nghèo đơn giản với mọi người nơi đây, và quyết tâm sống chết giữa xứ đạo được Thiên Chúa và Giáo hội trao phó, giữa những sóng gió thử thách đe dọa của thời cuộc lúc đó.
Thật là một nếp sống khiêm nhượng chan chứa năng lượng hy sinh truyền giáo cùng bác ái khó có thể hơn được!
Noi gương sống đó ban tổ chức đã chọn thánh địa Đức mẹ Banneux dâng thánh lễ tạ ơn mừng kính Chân phước tử đạo Phanxicô Trương bửu Diệp.
Thánh địa Banneux theo sử sách địa lý là một vùng nhà quê hẻo lánh, ít dân cư ngụ, mức sống cũng dựa trên nông nghiệp. Năm 1933 Đức mẹ Maria đã hiện ra nơi đây với cô bé Becco, và Đức Mẹ đã xưng mình là “Đức Mẹ của người nghèo”.
Lần hiện ra thứ ba với Mariette Beco, Đức mẹ đã trả lời thắc mắc của Mariette: „Ta là mẹ của người nghèo“. Với lời tự nhận đó, Đức Mẹ muốn mình ở giữa những người nghèo không chỉ về vật chất của cải tiền bạc, nhưng còn nghèo về đời sống tinh thần tâm linh nữa.
Chúa Giêsu trong bài giảng tám mối phúc thật đã ca tụng „những người có tâm hồn nghèo khó, vì nước trời là của họ.“ (Mt 3,1). Họ nghèo về vật chất, nhưng lại giầu có tinh thần, vì tin tưởng vào Chúa.
Sau biến cố Đức mẹ hiện ra, Banneux được biết đến càng càng nhiều và trở thành trung tâm đạo đức hành hương kính Đức mẹ cho mọi dân tộc khắp nơi trên thế giới. Dòng suối nước Đức mẹ Banneux ở thánh địa là dòng suối nước dânh cho mọi dân tộc, như lời Đức Mẹ nhấn nhủ: Con hãy nhúng tay vào dòng nước chữa lành ban ơn này! Từ ngày đó khách hành hương đến Banneux đều cúi mình nhúng đôi tay vào bể suối nước và lâm râm đọc kinh khấn nguyện xin Đức mẹ che chở phù hộ cho trước tòa Thiên Chúa, nguồn sự sống và bình an.
Cử chỉ nhúng tay sâu vào dòng nước nói lên tâm tình muốn gặp gỡ Chúa Giêsu là nguồn suối mọi ân đức nơi Lời của Chúa và nơi các Bí Tích. Đời sống đức tin vào Chúa cho chúng ta cùng được tham dự chia sẻ vào mầu nhiện ơn cứu chuộc của Chúa, không phải chỉ qua sự hiểu biết của lý trí, nhưng còn là lòng tin tưởng yêu mến cùng gắn bó mật thiết với Chúa nữa.
Dòng suối nước Đức Mẹ Banneux trở nên thời danh qua nhờ những phép lạ chữa bệnh, mà người tín hữu đến nhúng tay vào trong đó như Đức mẹ truyền bảo Mariette Beco: “Cho tất cả mọi dân tộc, mang lại sự yên ủi cho người đau bệnh, cho những người bị bệnh tật.“.
Dòng suối nước Đức Mẹ Banneux là dấu chỉ của lòng yêu mến Chúa dành cho mọi người.
Đức Giê-su nói: "Ai uống nước này, sẽ lại khát.14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời." (Ga 4,14.)
Ngôi thánh đường to rộng lớn với năm ngàn chỗ ngồi được xây dựng làm bằng gỗ kiến trúc đơn sơ nói lên sự nghèo hèn dâng kính Đức Mẹ Banneux, như lời Đức mẹ nhắn nhủ về đời sống cho người nghèo.
Chính tại ngôi thánh đường Đức mẹ của người nghèo, đơn giản này, thánh lễ tạ ơn mừng kính Chân phước Phanxicô Xavie Trương bửu Diệp được long trọng cử hành.
Sự trùng hợp đó theo khía cạnh tâm linh đạo đức rất thích hợp ăn khớp với đời sống đơn giản nghèo hèn của Chân Phước Phanxicô Trương xứ đạo Tắc Sậy.
Theo khía cạnh nhân văn diễn tả nếp sống hòa mình đồng cảm với nếp sống nghèo khổ người dân ngày xưa của Chân Phước Phanxicô Trương Bửu Diệp giữa họ.
Xin ca ngợi lòng kính mến chân thành cùng sống động sốt sắng Chân Phước Phanxicô Trương Bửu Diệp của người tín hữu Chúa Kitô. Vì tin tưởng rằng nhờ lời chuyển cầu bầu cử của Chân Phước Phanxicô Xavie, lời cầu khấn được Thiên Chúa nhận lời ban ơn cho đời sống chung cũng như riêng.
Mừng kính Chân phước tử đạo Phanxicô Xavie Trương bửu Diệp muốn ôn nhớ lại nếp sống đơn giản nghèo khó, cùng hy sinh hòa mình đồng cảm với con người, mà xưa kia Chân Phước Phanxicô Xavie Trương bửu Diệp đã sống làm gương.
Xin chân thành ca ngợi cùng cám ơn sự dấn thân hy sinh của Hội Liên Hiệp truyền giáo Roma do Cha Toma Nguyễn đình Anh nhuệ, và Cộng đoàn hành hương Âu châu do Cha Phaolo Huỳnh văn Chánh, đã đứng ra tổ chức ngày lễ tạ ơn mừng kính Chân Phước Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp, hôm Chúa nhật 26.07.2026 ở thánh địa Đức mẹ Banneux., được thành công tố đẹo nhuộm mầu tâm linh thánh đức.
”Xin Chân phước Phanxicô Xavie Trương Bửu Diệp cầu cho chúng con.”
Banneux, ngày 2].07.2026
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
VietCatholic TV
400 drone tấn công dữ dội Moscow, khói lửa mịt mù. Bị Ukraine đánh chìm tàu, Iran đe dọa tuyên chiến
VietCatholic Media
04:00 27/07/2026
1. Cuộc không kích quy mô lớn bằng 400 máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã nhắm vào mạng lưới hậu cần và các kho nhiên liệu ở khu vực Mạc Tư Khoa.
Đêm Chúa Nhật, 26 Tháng Bẩy, Ukraine đã tiến hành một trong những cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa lớn nhất vào khu vực Mạc Tư Khoa, với các quan chức Nga tuyên bố hơn 400 máy bay điều khiển từ xa đã tấn công vào thủ đô và các khu vực xung quanh, gây ra hỏa hoạn tại các cơ sở hậu cần lớn, một kho chứa dầu và một tòa nhà dân cư.
Theo các kênh giám sát của Ukraine và các báo cáo của truyền thông Nga, máy bay điều khiển từ xa FP-1 đã tấn công một trong những trung tâm hậu cần lớn nhất của Wildberries ở Koledino, gần Podolsk.
Các video được trang tin Astra của Nga xác minh cho thấy ít nhất hai đám cháy lớn và khói đen dày đặc bốc lên từ khu vực này.
Wildberries phủ nhận việc kho hàng của họ bị hư hại nhưng cho biết cơ sở này đã được di tản như một biện pháp phòng ngừa.
"Tất cả nhân viên tại hiện trường đã rời khỏi tòa nhà một cách trật tự", công ty cho biết trong một tuyên bố được đăng tải trên kênh Telegram ủng hộ chiến tranh Dva Mayora.
Vụ tấn công được tường trình cũng nhắm vào một kho chứa dầu ở quận Lvovsky thuộc thành phố Podolsk và một khu phức hợp hậu cần lớn khác trong khu công nghiệp Yuzhnye Vorota gần Domodedovo, một trung tâm phân phối trải rộng hơn 650.000 mét vuông.
Astra báo cáo ít nhất năm điểm cháy riêng biệt trên khắp tỉnh Mạc Tư Khoa.
Một máy bay điều khiển từ xa cũng đã đâm vào một tòa nhà chung cư ở Domodedovo. Theo Astra, sáu người, trong đó có ba người nước ngoài, đã phải vào bệnh viện với các vết thương do vụ nổ gây ra với mức độ nghiêm trọng khác nhau.
Thống đốc tỉnh Mạc Tư Khoa, Andrei Vorobyov, đã thừa nhận vụ tấn công, tuyên bố rằng hệ thống phòng không Nga đã "đẩy lùi" nó.
Ông cho biết một người bị thương sau khi một ngôi nhà riêng bốc cháy ở Domodedovo, trong khi một người khác bị thương trên xa lộ M-4 khi một máy bay điều khiển từ xa rơi gần một chiếc xe đang lưu thông.
Ông Vorobyov cho biết thêm, mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa rơi xuống đã gây ra hỏa hoạn và làm hư hại cơ sở hạ tầng dân sự ở Podolsk. Một ngôi nhà riêng đã bị cháy ở làng Maloye Tolbino, trong khi một chiếc xe hơi và một ngôi nhà bị hư hại ở Odintsovo. Không có thương vong nào được báo cáo ở đó.
Thị trưởng Mạc Tư Khoa Sergei Sobyanin cho biết hơn 400 máy bay điều khiển từ xa đã tiếp cận khu vực Mạc Tư Khoa từ 8:30 tối Chúa Nhật đến 5 giờ sáng thứ Hai.
Ông tuyên bố hầu hết các máy bay điều khiển từ xa đã bị chặn lại trước khi đến thủ đô, với 85 chiếc bị bắn hạ khi đang tiếp cận Mạc Tư Khoa.
Vụ tấn công mới nhất đánh dấu vụ tấn công thứ hai được báo cáo nhằm vào cơ sở hạ tầng hậu cần của Nga chỉ trong vòng ba ngày.
Vào đêm 18 tháng 7, máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã tấn công hai kho hàng của Wildberries – một ở Elektrostal, phía đông Mạc Tư Khoa, và một kho khác ở tỉnh Tambov của Nga.
Vụ tấn công vào cơ sở Elektrostal đã gây ra một vụ hỏa hoạn lớn, tạo ra cột khói có thể nhìn thấy từ khoảng cách hơn 200 km và gây thiệt hại tới 15% tổng sức chứa kho hàng của Wildberries. Lực lượng cứu hỏa vẫn đang chiến đấu với ngọn lửa hơn một ngày sau đó.
Vụ hỏa hoạn đã phá hủy các kho hàng và hàng hóa thuộc sở hữu của hàng ngàn người bán hàng bên thứ ba. Truyền thông Nga đưa tin một số doanh nhân ước tính thiệt hại lên đến hàng triệu rúp và đang gấp rút tìm kiếm nguồn tài chính để duy trì hoạt động kinh doanh.
[Kyiv Post: Ukraine’s Massive 400-Drone Raid Hits Moscow Region Logistics Network, Fuel Sites]
2. Máy bay điều khiển từ xa của Ba Lan dẫn đường cho cuộc tấn công của Ukraine vào kho đạn của Nga.
Theo thông báo từ bộ phận báo chí của Lữ đoàn Pháo binh Độc lập số 26, máy bay điều khiển từ xa FlyEye, do công ty Flytronic của Ba Lan phát triển, đã được sử dụng để xác định và dẫn đường cho cuộc tấn công bằng hỏa tiễn HIMARS tại khu vực Bakhmut hôm thứ Sáu.
Theo thông báo, cuộc tấn công bằng hệ thống HIMARS đã nhắm trúng một kho chứa đạn dược, gây ra vụ nổ thứ hai phá hủy kho vũ khí và một hệ thống pháo binh.
Một video được đăng tải trực tuyến cho thấy máy bay điều khiển từ xa đang được chuẩn bị để phóng và cất cánh, tiếp theo là việc khai hỏa hệ thống HIMARS và một số vụ nổ.
Video kết thúc bằng việc lữ đoàn bày tỏ sự cảm kích đối với máy bay điều khiển từ xa của Ba Lan.
Theo thông cáo báo chí của hãng thông tấn United24 Media do nhà nước Ukraine hậu thuẫn, "Đối với các binh sĩ thuộc Lữ đoàn Pháo binh Độc lập số 26, không có niềm vui nào lớn hơn việc tấn công hiệu quả các mục tiêu của kẻ thù."
Báo cáo cũng nhấn mạnh "sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị trinh sát trên không và pháo phản lực", điều mà báo cáo cho rằng cho phép Ukraine đạt được "những kết quả mạnh mẽ trên chiến trường".
Năm ngoái, công ty quốc phòng Ba Lan WB Group, chủ sở hữu của Flytronic, đã mở rộng sản xuất FlyEye sang Ukraine để đáp ứng nhu cầu gia tăng về máy bay điều khiển từ xa trinh sát trong cuộc xâm lược toàn diện của Nga.
Máy bay điều khiển từ xa trinh sát nặng 11 kg này có thể được hai binh sĩ mang vác, phóng bằng tay và chuẩn bị cho chuyến bay trong khoảng 11 phút. Nó có tầm hoạt động lên đến 50 km.
[Kyiv Post: Polish Drone Guides Ukrainian Strike on Russian Ammo Depot]
3. "Kết quả rất tốt" – Làn sóng tấn công của Ukraine trên khắp lãnh thổ Nga và Biển Caspi đêm qua nhắm vào các tàu chiến, hệ thống phòng không và hậu cần.
Ukraine tuyên bố đã thực hiện một loạt các cuộc tấn công tầm xa vào đêm qua nhằm vào cơ sở hạ tầng quân sự, hệ thống phòng không, trung tâm hậu cần và tài sản hải quân của Nga trên nhiều khu vực của Nga và Ukraine bị tạm chiếm, như một phần trong chiến dịch làm suy yếu khả năng chiến tranh của Mạc Tư Khoa.
Trong những tháng gần đây, Ukraine đã mở rộng các cuộc tấn công tầm xa và tầm trung trên khắp nước Nga và các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm nhằm mục đích làm suy yếu năng lực quân sự và kinh tế của Nga, vốn là nguồn lực giúp Nga tiếp tục cuộc xâm lược Ukraine.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết lực lượng Ukraine đã tấn công các cơ sở hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Nga tại Kirov, Tyumen, Yekaterinburg, Rostov-on-Don và Biển Caspi.
Trong số các mục tiêu, ông đã xác định một doanh nghiệp liên quan đến quốc phòng ở Kirov, cách biên giới Ukraine khoảng 1.200 km, nhà máy lọc dầu Tyumen, một cơ sở hậu cần ở Yekaterinburg và một kho nhiên liệu ở Rostov-on-Don.
"Chúng tôi đã đạt được những kết quả rất tốt từ các cuộc tấn công tầm xa ở Biển Caspi", Tổng thống Zelenskiy nói, đồng thời cho biết thêm rằng chiến dịch này nhắm vào các tàu vận chuyển hàng hóa quân sự từ Iran cũng như một tàu chiến của Nga.
Các nhà phân tích nguồn mở cho biết cuộc tấn công ở Kirov nhắm vào nhà máy quốc phòng Avitek. Exilenova+ cho biết cuộc tấn công được thực hiện bằng hỏa tiễn Flamingo do Ukraine sản xuất.
Theo đánh giá của họ, hình ảnh vệ tinh cho thấy quả đạn đã xuyên qua mái của một tòa nhà sản xuất trước khi phát nổ bên trong, gây ra một vụ hỏa hoạn lớn.
[Euromaidan: "Very good results" – Wave of Ukrainian strikes across Russia and Caspian Sea overnight target warships, air defenses, logistics]
4. Iran đe dọa trả đũa sau cuộc tấn công của Ukraine ở Biển Caspi.
Bộ Ngoại giao Iran đã lên án vụ tấn công gần đây của Ukraine vào một tàu thuyền ở Biển Caspi, tuyên bố rằng Tehran bảo lưu quyền bảo vệ "lợi ích và an ninh quốc gia" của mình.
Trong một tuyên bố chính thức, Bộ này khẳng định Iran có quyền thực hiện "hành động thích đáng" để đáp trả vụ tấn công vào con tàu mà họ mô tả là tàu thương mại.
Sau tuyên bố ngoại giao, kênh Telegram thân Iran Middle East Spectator đã đăng tải một bản đồ khẳng định toàn bộ Ukraine nằm trong tầm bắn của hỏa tiễn đạn đạo Iran, cụ thể là hệ thống Khorramshahr-4. Thông tin này chưa được các nguồn chính thức của chính phủ Iran xác nhận.
Lời lên án của Iran được đưa ra sau tuyên bố của Tổng thống Volodymyr Zelenskiy, trong đó ông cho biết lực lượng Ukraine đã tấn công một tàu chiến Nga và các tàu khác trên Biển Caspi tham gia vận chuyển hàng hóa quân sự với sự hợp tác của Iran.
Theo Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU, chiến dịch nhắm vào các tàu Port Olya 2 và Begey, mà cơ quan này cho biết đang tham gia vào hoạt động vận chuyển quân sự giữa Nga và Iran.
Cảnh báo của Mỹ liên quan đến các hoạt động ở Hắc Hải
Căng thẳng ngoại giao ở Biển Caspi trùng hợp với áp lực gia tăng từ phía Mỹ liên quan đến các hoạt động hàng hải của Ukraine ở Hắc Hải.
Mới đây, chính quyền Trump đã đưa ra cảnh báo đối với Ukraine, kêu gọi Kyiv kiềm chế việc tấn công các tàu không thuộc Nga sau một loạt các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa làm gián đoạn hoạt động khai thác dầu liên quan đến công ty năng lượng Chevron của Mỹ.
Các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga nhắm vào Kharkiv đã đánh trúng một xe tải chở bánh mì và một khu dân cư, làm ít nhất 10 người bị thương.
Sự can thiệp ngoại giao diễn ra sau khi Giám đốc điều hành của Chevron, Mike Wirth, và các lãnh đạo khác trong ngành dầu khí gặp gỡ các quan chức cao cấp của chính quyền Mỹ để thảo luận về việc bảo vệ hoạt động của họ tại Kazakhstan. Điều này diễn ra sau các cuộc tấn công của Ukraine vào bốn tàu chở dầu gần cảng Novorossiysk trên Hắc Hải của Nga, trong đó có một tàu do Chevron thuê.
Một quan chức Mỹ được tờ báo này trích dẫn cho biết chính quyền đã chính thức cảnh báo Ukraine rằng các cuộc tấn công vào các tàu không thuộc Nga trong khu vực là không thể chấp nhận được.
"Chính quyền coi Tập đoàn đường ống dẫn khí Caspian, gọi tắt là CPC, là một tuyến đường quan trọng để vận chuyển các nguồn năng lượng có nguồn gốc từ Kazakhstan đến thị trường Âu Châu, đóng vai trò là một lựa chọn thay thế cho các nguồn năng lượng của Nga," quan chức này cho biết.
Cảng Novorossiysk của Nga là trung tâm xuất khẩu dầu mỏ chính và là điểm cuối của CPC, một mạng lưới cung cấp khoảng 2% lượng dầu thô toàn cầu mỗi ngày. Chevron nắm giữ 15% cổ phần trong CPC, công ty vận chuyển dầu từ ba mỏ chính qua Kazakhstan và Nga đến Hắc Hải, và 50% cổ phần tại mỏ Tengiz có sản lượng cao.
Các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa gần đây đã hạn chế hoạt động bốc dỡ dầu thô tại cảng Novorossiysk, buộc Kazakhstan phải giảm sản lượng dầu trong nước do dung lượng lưu trữ hạn chế.
Chính quyền Mỹ đặt mục tiêu bảo đảm nguồn cung dầu của Chevron được duy trì liên tục để ổn định thị trường toàn cầu, trong bối cảnh những hạn chế về nguồn cung gần đây đã đẩy giá dầu toàn cầu lên trên 100 đô la một thùng.
[Kyiv Post: Iran Threatens Retaliation Following Ukrainian Strike in Caspian Sea]
5. Chúng ta đã yêu thích máy bay điều khiển từ xa, nhưng chúng không phải là giải pháp duy nhất.
Elisabeth Braw là nghiên cứu viên cao cấp tại Hội đồng Đại Tây Dương, tác giả của cuốn sách đoạt giải thưởng "Goodbye Globalization" và là cây bút thường xuyên của POLITICO. Cuốn sách mới của bà, "The Undersea War," sẽ ra mắt vào cuối năm nay.
Bà vừa có bài viết nhan đề " We’ve fallen in love with drones, but they’re not the sole answer", nghĩa là "Chúng ta đã say mê máy bay điều khiển từ xa, nhưng chúng không phải là giải pháp duy nhất".
Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Thụy Khanh.
Phải công nhận rằng: Ukraine đang dần thay đổi cục diện cuộc chiến sau cuộc xâm lược của Nga năm 2022.
Họ đang thực hiện điều này bằng nhiều cách, nhưng điều gây ấn tượng mạnh nhất là việc sử dụng máy bay điều khiển từ xa một cách khéo léo và rộng rãi. Trên thực tế, đường lối này đã nhận được nhiều sự ngưỡng mộ đến mức ở một số nơi, máy bay điều khiển từ xa hiện đang được ca ngợi như là "Wunderwaffen" (vũ khí thần kỳ) đối với các quốc gia NATO ở Âu Châu - loại vũ khí có thể tự mình thay đổi khả năng phòng thủ của một quốc gia.
UAV không được như thế đâu. Nhưng chúng cũng không chỉ là những diễn viên phụ.
Sự hào hứng đối với máy bay điều khiển từ xa là điều dễ hiểu. Theo tờ Kyiv Post, chỉ riêng ngày 9 tháng 7, "Ukraine tuyên bố đã tấn công 14 tàu Nga trong đêm ở Biển Azov, trong đó có 12 tàu chở dầu được tường trình thuộc ‘hạm đội bóng tối’ bị Mạc Tư Khoa trừng phạt. Chỉ huy máy bay điều khiển từ xa của Ukraine cho biết tổng cộng 35 tàu đã bị tấn công trong 96 giờ trước đó, trong khi lực lượng Ukraine cũng tấn công vào 45 địa điểm quân sự ở Crimea bị tạm chiếm và miền nam Ukraine."
Dường như máy bay điều khiển từ xa của Ukraine có mặt ở khắp mọi nơi. Và Ukraine không chỉ sử dụng chúng để tấn công các mục tiêu của Nga mà không gây ra tổn thất nặng nề về nhân mạng như hỏa tiễn; mà họ còn có khả năng làm điều đó ở khoảng cách rất xa.
Máy bay điều khiển từ xa đã tấn công các tàu ngầm Nga ở Hắc Hải. Chúng tấn công các tàu ngầm Nga ở Địa Trung Hải. Chúng tấn công các nhà máy lọc dầu của Nga. Chúng tấn công các cảng dầu của Nga ở Biển Baltic. Chúng gây ra những vấn đề liên tục cho quân đội Nga, và thậm chí đã tấn công chính lãnh thổ Nga. Đầu tháng này, chúng thậm chí còn tấn công một nhà máy lọc dầu ở Siberia.
Trên thực tế, máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã thành công đến mức chúng đang làm dấy lên những yêu cầu ngày càng gay gắt đối với các thành viên Âu Châu của NATO, buộc họ phải chuyển trọng tâm sang loại vũ khí nhỏ gọn và giá rẻ này. Hãy nhìn xem máy bay điều khiển từ xa đã giúp Ukraine thay đổi cục diện chiến tranh như thế nào! Hãy nhìn xem bạn có thể đạt được bao nhiêu điều với chi phí tương đối thấp! Máy bay điều khiển từ xa là tương lai! Chính phủ của chúng ta đang tụt hậu! Đó là lập luận được đưa ra.
Tuy máy bay điều khiển từ xa chắc chắn là một phần của tương lai chiến tranh, nhưng chúng vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm và thiếu các quy tắc giao chiến rõ ràng.
Hơn nữa, Nga cũng sử dụng máy bay điều khiển từ xa, đôi khi vi phạm không phận NATO. Lực lượng Nga thường xuyên phá hoại các chuyến bay của máy bay điều khiển từ xa Ukraine, khiến chúng bay lạc vào lãnh thổ NATO.
Dĩ nhiên, các nước thành viên NATO cũng có máy bay điều khiển từ xa — và họ có kế hoạch mua thêm. "Ukraine đã thực sự thúc đẩy sự phát triển công nghệ của chúng tôi," Đề đốc Ewa Skoog Haslum, Tham mưu trưởng các hoạt động chung của Thụy Điển, nói với tôi. "Nó cũng đã giúp công chúng nhận thức rõ hơn về máy bay điều khiển từ xa. Quân đội Thụy Điển, giống như quân đội ở các nước khác trong NATO, liên tục tập trận với và chống lại máy bay điều khiển từ xa. Nhưng đôi khi phải xảy ra một tình huống lớn hoặc khẩn cấp thì mọi thứ mới diễn ra và phát triển nhanh chóng. Đó là những gì chúng ta đang thấy hiện nay."
Nhưng những vũ khí khiêm tốn nhưng đáng gờm này không phải là một loại vũ khí thần kỳ.
" Chúng ta nên nhớ rằng điều mà Ukraine đã làm được… là đẩy hạm đội Hắc Hải của Nga ra khỏi khu vực phía tây Hắc Hải, điều đó có nghĩa là người Ukraine có thể duy trì giao thông hàng hải dân sự của họ," Hans Granlund, một sĩ quan hải quân Thụy Điển vừa nghỉ hưu, người từng là tùy viên quốc phòng tại Ukraine trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, nhận xét. "Tuy nhiên, người Ukraine đã không thể tự mình kiểm soát Hắc Hải vì họ không có hạm đội riêng."
Hầu hết các máy bay điều khiển từ xa trên không đều giống như muỗi: Chúng nhỏ, chúng chích, chúng dùng một lần và dễ dàng thay thế, và chúng di chuyển theo đàn. Nhưng chích và làm tê liệt đối phương không phải là nhiệm vụ duy nhất của quân đội.
Ví dụ, máy bay điều khiển từ xa chắc chắn không thể thay thế hoàn toàn tàu thuyền. Tại Biển Baltic, các nước NATO không chỉ cần gây thiệt hại cho tàu thuyền Nga mà còn phải vận chuyển quân đội và tiếp tế cho các nước Baltic và Phần Lan. Và đó chỉ là trong lĩnh vực hàng hải. Hãy tưởng tượng việc chống lại kẻ xâm lược trên bộ chủ yếu bằng máy bay điều khiển từ xa. Chắc chắn, bạn có thể gây ra thiệt hại đáng kể cho kẻ xâm lược, nhưng chỉ riêng máy bay điều khiển từ xa sẽ không mang lại chiến thắng.
Chắc chắn rồi, máy bay điều khiển từ xa không chỉ là vũ khí tấn công; chúng cũng có thể thực hiện các nhiệm vụ hậu cần. Nhưng chúng cần phải là một phần trong kho vũ khí tổng hợp của một quốc gia — đó chính là lý do tại sao Ukraine sử dụng nhiều loại vũ khí khác và liên tục yêu cầu các đồng minh cung cấp thêm. Tại hội nghị thượng đỉnh NATO ở Ankara hồi đầu tháng này, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy thậm chí đã thuyết phục được Tổng thống Donald Trump đồng ý cho phép Ukraine sản xuất hỏa tiễn Patriot của Mỹ theo giấy phép.
Tháng này, cuộc tranh luận về việc sử dụng máy bay điều khiển từ xa ở mức độ phù hợp đã có một bước ngoặt kịch tính ngay tại Ukraine, khi Tổng thống Zelenskiy cách chức Bộ trưởng Quốc phòng được lòng dân Mykhailo Fedorov, được tường trình vì ông này bất đồng quan điểm với Tư lệnh Quân đội Ukraine, Tướng Oleksandr Syrskyi. Fedorov ủng hộ việc sử dụng máy bay điều khiển từ xa một cách rộng rãi, trong khi Syrskyi lại ưa chuộng chiến tranh truyền thống. Điều đó cho thấy thời thế đang thay đổi như thế nào khi chỉ vài ngày sau, Tổng thống Zelenskiy cũng cách chức Syrskyi.
Đối với hầu hết các quốc gia, giải pháp tốt nhất sẽ nằm ở đâu đó giữa Fedorov và Syrskyi. Họ cũng phải ghi nhớ rằng, với mỗi loại vũ khí mới được phát minh, đối phương lại phát triển một loại vũ khí có thể vượt trội hơn.
"Công nghệ mới sẽ liên tục xuất hiện; tốc độ phát triển ngày càng nhanh," Skoog Haslum giải thích. "Một tương lai mà chúng ta không thấy các biện pháp đối phó với máy bay điều khiển từ xa xuất hiện trên quy mô lớn là điều hoàn toàn không thể tưởng tượng được. [Vũ khí vi sóng công suất cao] và vũ khí laser ‘chỉ’ cần năng lượng dưới dạng điện tích có khả năng sẽ là một trong những biện pháp đối phó hiệu quả hơn. Đó là lý do tại sao, ví dụ, tàu khu trục là không thể thiếu trong lĩnh vực hải quân. Bạn không thể nạp năng lượng cho vũ khí năng lượng cao ở bất cứ đâu. Tàu chiến là lựa chọn tuyệt vời cho việc này."
Tuy nhiên, niềm tin ngày càng tăng vào máy bay điều khiển từ xa trong giới bình luận và công chúng cũng tạo ra một tình thế khó xử thực sự cho các nhà hoạch định chính sách và quân đội, khi họ phải đối mặt với một luận điểm đại loại như sau: Ukraine đã có thể xoay chuyển tình thế trong cuộc chiến này bằng cách sử dụng máy bay điều khiển từ xa tự sản xuất với ngân sách eo hẹp. Do đó, việc chi tiền cho các loại vũ khí truyền thống hơn là lỗi thời và lãng phí tiền thuế của người dân.
Đó là một luận điểm nguy hiểm.
Vũ khí quân sự ngày càng trở nên tinh vi và kết nối chặt chẽ hơn. Máy bay điều khiển từ xa là một phần cực kỳ hữu ích trong hệ thống này, nhưng chúng cũng có thể bị đánh bại khi công nghệ tiếp tục phát triển.
"Máy bay điều khiển từ xa phải là một phần tự nhiên của toàn bộ hệ thống quân sự của chúng ta - với vai trò là cảm biến, phương tiện mang vũ khí và hệ thống hậu cần," Skoog Haslum nói. "Càng nhiều kết nối, số hóa và trí tuệ nhân tạo được đưa vào, các hệ thống càng có thể được chia sẻ. Nhưng chúng ta không thể sản xuất hàng loạt máy bay điều khiển từ xa rồi cất giữ chúng; như vậy chúng sẽ lỗi thời khi cần sử dụng. Đó là sự phát triển nhanh chóng của công nghệ."
Quản lý tốt tiền thuế của người dân luôn phải là nguyên tắc hàng đầu của bất kỳ quan chức nhà nước nào. Nhưng nếu chúng ta tạo ra một cuộc tranh luận mà trong đó niềm tin thái quá vào máy bay điều khiển từ xa khiến các nhà hoạch định chính sách ngần ngại biện minh cho các nhu cầu quốc phòng chính đáng, thì chỉ có một người thắng cuộc: là Nga.
[Politico: We’ve fallen in love with drones, but they’re not the sole answer]
6. Iran đe dọa trả đũa sau vụ tấn công tàu của Ukraine.
Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi hôm Chúa Nhật cảnh báo rằng nước ông sẽ đáp trả vụ tấn công chết người do Ukraine thực hiện nhằm vào một tàu của Iran ở Biển Caspi.
Điều này diễn ra sau khi Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy tuyên bố Kyiv đã thực hiện các cuộc tấn công tầm xa ở Biển Caspi nhằm vào các tàu vận chuyển hàng hóa quân sự liên quan đến Iran, nhấn mạnh tính chất quốc tế ngày càng tăng của cuộc chiến do Nga phát động ở Ukraine.
"Zelenskiy đã tấn công một tàu thương mại của Iran, khiến một thủy thủ thiệt mạng", Araghchi nói, mô tả đây là "một hành vi vi phạm trắng trợn Hiến chương Liên Hiệp Quốc được thực hiện theo yêu cầu của Israel nhằm lôi kéo Âu Châu vào cuộc chiến của họ".
Bộ Ngoại giao Iran cho biết vụ tấn công đã khiến con tàu "phát nổ, làm một thủy thủ thiệt mạng và nhiều người khác bị thương".
Bộ này cho biết trong một tuyên bố rằng Cộng hòa Hồi giáo Iran "chưa bao giờ can thiệp vào cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine".
Hôm thứ Bảy, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy tuyên bố trên mạng xã hội rằng quân đội đã đạt được "những kết quả rất mạnh mẽ với các cuộc tấn công tầm xa ở Biển Caspi - bao gồm cả các tàu được sử dụng trong các chuyến vận chuyển hàng hóa quân sự liên quan đến Iran, cũng như một tàu chiến."
Về phần mình, các cơ quan tình báo Ukraine đã báo cáo trên Telegram rằng các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa đã được thực hiện nhằm vào "các tàu chở hàng đang chịu lệnh trừng phạt quốc tế, được sử dụng để vận chuyển hàng hóa quân sự giữa Iran và Nga."
[CBSNews: Iran threatens retaliation after Ukrainian attack on ship]
7. Người tổ chức triển lãm máy bay điều khiển từ xa gần Kyiv bị bắt giữ.
Trưởng ban tổ chức một triển lãm công nghệ quốc phòng gần Kyiv đã bị bắt giữ và bị cáo buộc tội sơ suất hình sự sau vụ tấn công bằng hỏa tiễn đạn đạo của Nga vào sự kiện này, khiến 10 người thiệt mạng và 100 người bị thương.
Viện trưởng Viện Kiểm sát Ruslan Kravchenko đã thông báo về vụ bắt giữ vào thứ Bảy, ngày 25 tháng 7, cho biết người tổ chức hiện đang được canh giữ tại một cơ sở y tế do bị thương nhẹ. Dự kiến tòa án sẽ sớm đưa ra quyết định về biện pháp ngăn chặn.
Theo kết quả điều tra, hiệp hội các nhà sản xuất máy bay điều khiển từ xa đã tổ chức sự kiện quy mô lớn này – bao gồm các cuộc trình diễn hệ thống phòng không và có sự tham gia của quân nhân, quan chức chính phủ và đại diện doanh nghiệp – mà không có sự cho phép của bộ chỉ huy quân sự, các cơ quan quân sự khu vực hoặc quận.
Kravchenko cho biết ban tổ chức đã mời hơn 300 người đến một địa điểm ngoài trời, nơi có mái che gần nhất, rộng 34 mét vuông, cách đó khoảng 100 mét.
"Điều này có nghĩa là hàng trăm người đã phải đối mặt với nguy cơ mất an ninh rõ ràng ngay từ đầu," tổng công tố viên tuyên bố.
Các nhà điều tra cũng phát hiện ra rằng thư mời được gửi đi chín ngày trước sự kiện, với địa điểm và thời gian chính xác được cung cấp trước đó 24 giờ. Giới chức đang đánh giá xem liệu những hành động này có cho phép lực lượng Nga chuẩn bị một cuộc tấn công có chủ đích hay không.
Sáng thứ Bảy, lực lượng Nga đã nã pháo vào hai khu vực của thành phố Kherson, khiến một người đàn ông 47 tuổi thiệt mạng, hai người khác bị thương và nhiều tòa nhà dân cư cùng một cơ sở giáo dục bị hư hại.
Sau vụ bắt giữ, lực lượng thực thi pháp luật đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại văn phòng của hiệp hội và nhà riêng của những cá nhân có khả năng liên quan đến việc tổ chức sự kiện.
Viện trưởng viện kiểm sát cho biết thêm rằng một cuộc đánh giá pháp lý riêng biệt sẽ được tiến hành liên quan đến hành động hoặc sự thiếu hành động của các quan chức có nghĩa vụ ứng phó với các rủi ro an ninh tiềm tàng. Cuộc điều tra đang xem xét các hoạt động của Cảnh sát Quốc gia, Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU, các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương và các bộ chỉ huy quân sự để xác định xem các mối đe dọa tiềm tàng đã được giám sát và đánh giá đúng mức hay chưa.
Vụ kiện này diễn ra sau vụ tấn công hỏa tiễn hôm thứ Sáu nhằm vào một trường huấn luyện tư nhân ở quận Buchanskyi thuộc vùng Kyiv.
Bộ Quốc phòng Nga đã nhận trách nhiệm về vụ tấn công, tuyên bố rằng họ đã cố tình tấn công vào triển lãm vì nơi đây trưng bày các máy bay điều khiển từ xa do Ukraine và nước ngoài sản xuất, mà Mạc Tư Khoa cáo buộc là được sử dụng để tấn công các mục tiêu bên trong nước Nga.
Hội đồng các nhà sản xuất vũ khí Ukraine, đơn vị tuyên bố không phải là nhà tổ chức sự kiện, đã xác nhận rằng các đại diện của ngành công nghiệp quốc phòng Ukraine có mặt khi hỏa tiễn tấn công.
Vụ việc đã gây ra sự chỉ trích từ các nhà bình luận và chuyên gia quân sự Ukraine về quyết định tổ chức triển lãm quốc phòng công cộng ở vị trí gần thủ đô.
Chuyên gia công nghệ quân sự Serhiy Beskrestnov cho biết ông không tham dự sự kiện vì lo ngại về an ninh, đồng thời lưu ý rằng ông tránh những địa điểm không có nơi trú ẩn thích hợp hoặc những nơi được quảng bá rầm rộ trên mạng. Một số nhà bình luận khác so sánh sự kiện này với vụ tấn công hỏa tiễn của Nga vào một triển lãm công nghệ quân sự được tổ chức tại một nhà hát ở Chernihiv hồi tháng 8 năm 2023.
[Kyiv Post: Organizer of Targeted Drone Exhibition Near Kyiv Detained]
8. SBU tuyên bố đã tấn công các hệ thống S-400 và tàu thuyền trên biển Caspi.
Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU cho biết máy bay điều khiển từ xa tầm xa của họ đã tấn công một số mục tiêu quân sự ở tỉnh Rostov của Nga.
Theo cơ quan này, vụ tấn công đã nhắm vào radar 92N6E "Grave Stone" và tháp anten của nó, các thành phần của hệ thống phòng không S-400 của Nga. SBU cũng tuyên bố đã phá hủy một hệ thống phòng không Tor-M2, một tổ hợp tác chiến điện tử Pole-21 và hai kho chứa máy bay điều khiển từ xa FPV.
Cơ quan này cho biết thêm rằng máy bay điều khiển từ xa của họ đã tấn công giàn khoan dầu ngoài khơi Filanovsky ở Biển Caspi, hai tàu chở hàng đang bị trừng phạt quốc tế mà họ cho là đang vận chuyển hàng hóa quân sự giữa Iran và Nga, và một tàu hỏa tiễn lớp Molniya thuộc Dự án 12418.
Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU mô tả chiến dịch này là một phần trong nỗ lực của Ukraine nhằm phá vỡ hệ thống hậu cần quân sự của Nga và đáp trả các cuộc tấn công của Nga vào các cảng của Ukraine.
Bộ Tổng tham mưu báo cáo thêm các cuộc tấn công.
Ngoài ra, Bộ Tổng tham mưu Ukraine báo cáo về các cuộc tấn công vào một số mục tiêu quân sự khác trong hai ngày qua.
Theo quân đội, lực lượng Ukraine đã tấn công một trạm radar cảnh báo sớm gần Olenivka ở Crimea bị tạm chiếm và một kho đạn dược gần Novosemenivka ở tỉnh Kherson bị tạm chiếm.
Bộ Tổng tham mưu cũng cho biết lực lượng Ukraine đã tấn công các trạm chỉ huy máy bay điều khiển từ xa của Nga gần Bilovody ở tỉnh Sumy, Ledneva ở tỉnh Bryansk của Nga, Kamianske, Novoivanivka và Myrne ở tỉnh Zaporizhzhia và Komar ở tỉnh Donetsk.
Báo cáo cũng đề cập đến một cuộc tấn công vào một sở chỉ huy và quan sát của Nga gần Kazachya Lisitsa thuộc tỉnh Belgorod của Nga.
[Euromaidan: SBU claims strikes on S-400 systems and Caspian vessels]
9. Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU bắt giữ một đặc vụ vì kích hoạt 1.000 thiết bị Starlink cho Nga.
Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU đã bắt giữ một cư dân ở Dnipro bị cáo buộc xác minh và kích hoạt trái phép hơn 1.000 thiết bị đầu cuối vệ tinh Starlink cho lực lượng Nga.
Theo SBU, tình báo quân sự đã phát hiện một âm mưu quy mô lớn do một người gốc vùng Luhansk tổ chức, người này được tình báo Nga tuyển mộ thông qua Telegram. Ban đầu, nghi phạm ghi danh một thiết bị đầu cuối dưới tên của mình bằng thông tin đăng nhập do một người điều khiển từ Nga cung cấp.
Theo chỉ thị tiếp theo, nghi phạm đã mở rộng hoạt động, sử dụng dữ liệu cá nhân của các cá nhân trung gian để kích hoạt hàng loạt hệ thống vệ tinh tại nhiều chi nhánh bưu điện khác nhau.
Cơ quan SBU báo cáo rằng tất cả 1.000 thiết bị đầu cuối ghi danh bất hợp pháp đã bị chặn, qua đó cắt đứt hoàn toàn khả năng truy cập của Nga vào các thiết bị cụ thể đó. Trong quá trình khám xét nhà của nghi phạm, nhà chức trách đã thu giữ một điện thoại thông minh chứa bằng chứng về các cuộc liên lạc của người này.
Ông ta đã nhận được thông báo về hành vi nghi ngờ theo Điều 111-2 của Bộ luật Hình sự Ukraine, quy định về tội hỗ trợ nhà nước nước ngoài.
Vụ bắt giữ tại Dnipro diễn ra sau một loạt các chiến dịch tương tự nhắm vào các mạng lưới tạo điều kiện cho Nga tiếp cận thông tin liên lạc vệ tinh.
Mới đây, SBU đã bắt giữ hai người đàn ông ở Kyiv vì tội kích hoạt trái phép hơn 70 thiết bị đầu cuối Starlink thay mặt cho Cơ quan An ninh Liên bang Nga, gọi tắt là FSB. Trong trường hợp đó, các nghi phạm đã sử dụng hộ chiếu giả và nhờ sự trợ giúp của một nhân viên bưu điện để vượt qua các quy trình xác minh.
Quân đội Mỹ đã đạt được thành công đầu tiên trong việc đánh chặn máy bay điều khiển từ xa bằng hệ thống Merops, phá hủy một máy bay điều khiển từ xa Shahed của Iran tại Kuwait.
Đầu năm nay, SBU đã triệt phá một đường dây tương tự liên quan đến tám cá nhân vào tháng 6 và bắt giữ một nghi phạm khác ở Kropyvnytskyi vào tháng 3.
SBU cho biết lực lượng Nga sử dụng các thiết bị đầu cuối được buôn lậu để duy trì liên lạc an toàn ở tiền tuyến, phối hợp các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa, và phát hiện các cơ sở tác chiến điện tử của Ukraine.
Việc phụ thuộc vào các hệ thống Starlink nhập lậu diễn ra bất chấp các hạn chế chính thức trong nước Nga. Vào tháng 6, Duma Quốc gia Nga đã thông qua luật cấm nhập khẩu, bán và sử dụng thiết bị vệ tinh nước ngoài nhằm thắt chặt sự kiểm soát của nhà nước đối với truy cập internet và thúc đẩy các giải pháp thay thế trong nước.
[Kyiv Post: SBU Detains Agent for Activating 1,000 Starlinks for Russia]
10. Một tòa nhà dân cư ở Kyiv bị tấn công khi Nga phóng hỏa tiễn đạn đạo về phía thủ đô.
Theo các quan chức, đêm Thứ Bẩy, 25 Tháng Bẩy, Nga một lần nữa nã hỏa tiễn đạn đạo vào Kyiv, nhắm trúng một tòa nhà dân cư trong thành phố, một ngày sau khi Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cảnh báo về một cuộc tấn công hỏa tiễn quy mô lớn khác nhằm vào thủ đô Ukraine.
Theo các phóng viên của Kyiv Independent tại hiện trường, nhiều tiếng nổ đã được nghe thấy ở Kyiv vào lúc 0 giờ 23 phút giờ địa phương Chúa Nhật, 26 Tháng Bẩy. Một đám cháy lớn bốc lên trên một khu vực của thành phố trong vụ tấn công.
Thị trưởng Kyiv, Vitali Klitschko, báo cáo rằng mảnh vỡ hỏa tiễn đã rơi xuống một tòa nhà chung cư 18 tầng ở quận Shevchenkivskyi, gây ra hỏa hoạn giữa tầng 7 và tầng 8. Một vụ cháy khác được báo cáo tại một "địa điểm phi dân cư" không xác định ở quận Solomianskyi.
Ngay trước khi các vụ nổ xảy ra, Không quân Ukraine đã cảnh báo về mối đe dọa tấn công bằng hỏa tiễn đạn đạo vào thủ đô.
Hiện chưa có thông tin nào về mức độ thiệt hại.
Vụ tấn công mới nhất diễn ra một ngày sau khi Tổng thống Zelenskiy cảnh báo về kế hoạch của Mạc Tư Khoa nhằm phát động các cuộc tấn công hỏa tiễn quy mô lớn vào Kyiv trong vòng 48 giờ.
"Chúng tôi biết từ thông tin tình báo và các đối tác của mình rằng Nga đã chuẩn bị hỏa tiễn cho một cuộc tấn công quy mô lớn mới vào Ukraine... chúng tôi có thông tin sơ bộ rằng điều đó có thể xảy ra trong vòng 48 giờ tới," Tổng thống Zelenskiy nói trong bài phát biểu tối hôm đó.
Vụ tấn công mới nhất vào Kyiv diễn ra chỉ hai ngày sau khi một hỏa tiễn đạn đạo của Nga tấn công một triển lãm vũ khí đang diễn ra tại thủ đô vào ngày 24 tháng 7. Vụ tấn công đó đã khiến 10 người thiệt mạng và hơn 100 người khác bị thương, các quan chức cho biết.
[Kyiv Independent: Residential building struck in Kyiv as Russia launches ballistic missiles towards capital]
11. Đại sứ Mỹ chỉ trích các báo cáo về nguồn cung cấp vũ khí trong bối cảnh chiến tranh Iran.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Mike Waltz đã gọi những báo cáo cho rằng quân đội Mỹ không có đủ hỏa lực ở Trung Đông là "vô lý" trong một lần xuất hiện trên chương trình "Face the Nation with Margaret Brennan".
"Chúng tôi không chỉ có những gì cần thiết trong rạp hát, mà còn có thêm nhiều (tài sản) đang được chuyển đến rạp hát," Waltz nói.
Đài CBS News đưa tin rằng lực lượng Mỹ không thể duy trì tốc độ tiêu hao đạn dược chính xác như hiện nay. Các báo cáo trước đó cho thấy quân đội Mỹ đang sử dụng loại đạn dược này nhanh hơn tốc độ bổ sung. Các báo cáo khác cũng chỉ ra sự thiếu hụt các chỉ số đo lường.
Waltz không đề cập đến các báo cáo cụ thể, nhưng nhấn mạnh tác động của cuộc chiến tranh Iran đối với nguồn cung cấp vũ khí của Tehran.
[CBSNews: U.S. ambassador criticizes reports about munitions supplies amid Iran war]
12. Cảnh sát hạ sát nghi phạm trong vụ tấn công kinh hoàng tại lễ hội đồng tính Berlin.
Cảnh sát đã xác nhận một người đàn ông bị tình nghi tấn công vào lễ hội Christopher Street ở Berlin hôm thứ Bảy, khiến một người chết và hàng chục người bị thương, đã bị bắn chết.
Trước đó, Bộ trưởng Nội vụ Alexander Dobrindt đã nêu tên nghi phạm là Abdul Ballout, một người Đức 21 tuổi gốc Liban. Phát biểu tại hiện trường vụ án ở công viên Tiergarten của Berlin, ông Dobrindt nói với các nhà báo rằng "tất cả những gì chúng ta đã thấy cho đến nay đều cho thấy đây là một vụ tấn công khủng bố Hồi giáo."
Giới chức trách cho biết Ballout đã bị cảnh sát bắn chết trong một khu vườn ở ngoại ô thủ đô Berlin vào tối Chúa Nhật sau 20 giờ lẩn trốn. Các quan chức cảnh sát cho biết họ đã bắn chết hắn khi hắn cố gắng tấn công các sĩ quan bằng một con dao.
Ballout đã lái xe tải đâm vào đám đông trên một con đường tại Tiergarten gần địa điểm chính của sự kiện Pride cuối tuần và sau đó tấn công mọi người bằng một vũ khí sắc nhọn "được tường trình dao rựa", làm nhiều người bị thương nặng, Dobrindt nói với các nhà báo, xác nhận rằng một phụ nữ đã thiệt mạng và 29 người bị thương.
Ông nói thêm rằng Ballout "trước đây đã từng bị các nhà chức trách chú ý vì nhiều tội danh, sự cực đoan hóa và liên hệ với giới Hồi giáo cực đoan." Dobrindt cho biết sự cực đoan hóa của nghi phạm trước đây đã dẫn đến một bản án.
Theo một báo cáo của WELT, nghi phạm đã bị xếp vào loại mối đe dọa an ninh và bị kết án theo Bộ luật Hình sự Đức vì chuẩn bị một hành vi bạo lực nghiêm trọng gây nguy hiểm cho nhà nước. WELT cũng đưa tin rằng tòa án đã ra lệnh cho Ballout tham gia tư vấn như một phần của chương trình chống cực đoan hóa nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cực đoan.
Ông Dobrindt cho biết không thể loại trừ khả năng "những vụ tấn công khủng bố kinh hoàng như vậy có thể truyền cảm hứng cho những vụ bắt chước", mặc dù ông nói rằng nguy cơ này thấp. Ông khuyên các bang của Đức nên tăng cường các biện pháp an ninh để tránh những sự kiện tương tự.
Thủ tướng Đức Friedrich Merz đã lên án vụ tấn công, và một số nguyên thủ quốc gia Âu Châu đã bày tỏ lời chia buồn.
Ông Merz và một số thành viên nội các của ông đã tham dự lễ tưởng niệm hôm Chúa Nhật. Trước buổi lễ, ông Merz nói với các nhà báo: "Những cuộc tấn công này chỉ có một mục đích. Chúng nhằm chia rẽ xã hội ta. Chúng nhằm tước đoạt những gì quý giá nhất đối với chúng ta: sự cởi mở và tự do của chúng ta."
Ông nói thêm: "Chúng ta sẽ không cho phép thứ độc dược khủng bố này, thứ độc dược nhằm vào tự do của chúng ta, lan rộng hơn nữa trong xã hội."
[Politico: Police kill suspect in deadly Berlin Pride assault]
13. Chính quyền Trump cảnh báo Ukraine không được tấn công các tàu không thuộc Nga.
Chính quyền Trump đã đưa ra cảnh báo đối với Ukraine, kêu gọi Kyiv kiềm chế việc tấn công các tàu không thuộc Nga ở Hắc Hải sau một loạt các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa làm gián đoạn hoạt động khai thác dầu khí liên quan đến tập đoàn năng lượng khổng lồ Chevron của Mỹ.
Theo tờ Wall Street Journal cảnh báo ngoại giao được đưa ra sau khi Giám đốc điều hành của Chevron, Mike Wirth, và các lãnh đạo khác trong ngành dầu khí gặp gỡ các quan chức cao cấp của chính quyền Mỹ hồi đầu tuần này.
Các giám đốc điều hành đã tìm cách bảo vệ hoạt động kinh doanh của họ tại Kazakhstan sau khi lực lượng Ukraine tấn công bốn tàu chở dầu gần cảng Novorossiysk trên Hắc Hải của Nga, trong đó có một tàu do Chevron thuê.
Một quan chức Mỹ được tờ Wall Street Journal dẫn lời cho biết, sau các cuộc thảo luận trong ngành, chính quyền đã chính thức cảnh báo Ukraine rằng các cuộc tấn công vào các tàu không thuộc Nga trong khu vực là không thể chấp nhận được.
"Chính quyền coi Tập đoàn đường ống dẫn khí Caspian, gọi tắt là CPC, là một tuyến đường quan trọng để vận chuyển các nguồn năng lượng có nguồn gốc từ Kazakhstan đến thị trường Âu Châu, đóng vai trò là một lựa chọn thay thế cho các nguồn năng lượng của Nga," vị quan chức này cho biết.
Cảng Novorossiysk của Nga đóng vai trò là trung tâm xuất khẩu dầu mỏ quan trọng và là điểm cuối của mạng lưới đường ống dẫn dầu Caspian, chiếm khoảng 2% lượng cung cấp dầu thô toàn cầu hàng ngày.
Chevron nắm giữ 15% cổ phần trong CPC, công ty vận chuyển dầu từ ba mỏ chính qua Kazakhstan và Nga đến Hắc Hải. Công ty Mỹ này cũng sở hữu 50% cổ phần tại mỏ Tengiz – mỏ năng suất cao nhất trong ba mỏ – chiếm khoảng 12% sản lượng dầu thô toàn cầu của Chevron.
Liên minh Âu Châu đã thông qua gói trừng phạt thứ 21 đối với Nga, đưa ra một điều khoản mới cho phép các quốc gia thành viên tịch thu và bán dầu bị thu giữ từ "hạm đội ngầm" các tàu chở dầu của Mạc Tư Khoa.
Mặc dù đường ống dẫn dầu và các mỏ dầu không bị hư hại về mặt vật lý, nhưng các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa gần đây đã hạn chế hoạt động bốc dỡ dầu thô tại cảng Novorossiysk. Tình trạng tắc nghẽn này sau đó đã buộc Kazakhstan phải giảm sản lượng dầu trong nước do dung lượng lưu trữ hạn chế.
Tờ WSJ lưu ý rằng chính quyền Trump rất quyết tâm bảo đảm nguồn cung dầu của Chevron được duy trì liên tục, vì những hạn chế về nguồn cung gần đây bắt nguồn từ Trung Đông đã đẩy giá dầu toàn cầu lên trên 100 đô la một thùng.
Việc giảm sản lượng kéo dài từ mạng lưới CPC sẽ gây áp lực tài chính đáng kể lên các khoản đầu tư khu vực của Chevron, với tổng trị giá hàng chục tỷ đô la.
Áp lực ngoại giao từ Washington diễn ra cùng lúc với nỗ lực quân sự ngày càng gia tăng của Ukraine nhằm làm suy yếu cơ sở hạ tầng hậu cần và kinh tế của Nga ở Hắc Hải.
Vào đêm giữa thứ Tư và thứ Năm, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Ukraine, gọi tắt là AFU xác nhận vụ tấn công vào một tàu chở dầu ở Hắc Hải, cho biết tàu này đang vận chuyển dầu và nhiên liệu của Nga cho quân đội Nga.
Các cuộc tấn công trên biển là một phần của sáng kiến rộng lớn hơn. Hôm thứ Tư, Tư lệnh Lực lượng Hệ thống Điều khiển từ xa, gọi tắt là USF Robert "Madyar" Brovdi báo cáo rằng trong vòng 48 giờ, chiến dịch tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã tấn công 13 tàu Nga và 13 cơ sở năng lượng ở Crimea bị tạm chiếm.
Ông Brovdi nói thêm rằng chiến dịch mang tên "Molochka" cũng nhắm vào 13 tàu thuộc "Hạm đội Bóng tối" - bao gồm tàu chở dầu, tàu chở hàng khô và cần cẩu nổi được Mạc Tư Khoa sử dụng để né tránh các lệnh trừng phạt của phương Tây - nâng tổng số tàu bị tấn công trong chiến dịch kéo dài 13 ngày lên 172 chiếc.
Áp lực liên tục lên cơ sở hạ tầng quân sự và hậu cần của khu vực được tường trình đã khiến chính quyền xâm lược của Nga chuẩn bị cho khả năng di tản gia đình của các quân nhân thuộc Hạm đội Hắc Hải và các nhân viên dân sự phục vụ trong quân đội khỏi Crimea bị tạm chiếm.
[Kyiv Post: Trump Administration Warns Ukraine Against Attacking Non-Russian Vessels]
Satan đội lốt linh mục đòi GH phải phong chức cho những kẻ thác loạn. Lại tấn phong GM trái phép
VietCatholic Media
17:45 27/07/2026
1. Các tu sĩ theo phái Sedevacantist người Scotland đã thực hiện lễ tấn phong giám mục bất hợp pháp bất chấp những cảnh báo về nguy cơ ly giáo.
Một nhóm tu sĩ theo phái sedevacantist ở Scotland đã tổ chức một lễ tấn phong "giám mục" bất hợp pháp vào ngày 25 tháng 7, bất chấp những cảnh báo lặp đi lặp lại rằng làm như vậy sẽ cấu thành hành vi ly giáo và đoạn tuyệt với Giáo Hội Công Giáo.
Phái Sedevacantist là gì? Thưa phái Sedevacantist còn gọi là phái trống tòa là một nhóm người theo chủ nghĩa truyền thống Công Giáo tin rằng Tòa Thánh Rôma đang trống ngôi và các giáo hoàng từ sau Công đồng Vatican II (1962–1965) không phải là giáo hoàng đích thực. Thuật ngữ này bắt nguồn từ cụm từ tiếng Latinh sede vacante, có nghĩa là "trống tòa". Cụ thể, phái này tin rằng Đức Giáo Hoàng Piô thứ 12 là vị Giáo Hoàng sau cùng. Sau ngài, Giáo Hội rơi vào tình trạng trống ngôi Giáo Hoàng.
Các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế xuyên dãy Alps, hay còn gọi là Con Trai của Đấng Cứu Chuộc Chí Thánh, đã phát trực tiếp buổi lễ giả mạo này từ tu viện của họ trên đảo Papa Stronsay, một hòn đảo thuộc quần đảo Orkney ở Scotland.
Giám mục Hugh Gilbert của Aberdeen đã cảnh báo trong một thư mục vụ ngày 18 tháng 7 rằng việc tấn phong Giám Mục sẽ cấu thành một "hành động ly giáo" và "đưa những người tham gia vào đó ra khỏi Giáo Hội Công Giáo".
Buổi lễ được cử hành bởi các Giám mục Rodrigo Ribeiro da Silva, Fernando Altamira và Pierre Roy. Đức Cha Gilbert gọi ba vị này là "các giám mục không được ủy quyền đến từ Mỹ Châu". Trong lễ tấn phong giả mạo này Cha Michael Mary, một linh mục thuộc dòng tu và là bề trên của dòng, đã được tấn phong Giám Mục
Đầu năm 2026, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế vùng Alps đã công khai phủ nhận tính hợp pháp của Đức Giáo Hoàng hiện đại. Vào tháng 5, họ đã đưa ra một tuyên bố theo phái sedevacantist, khẳng định rằng họ sẽ "không công nhận về mặt pháp lý" Đức Giáo Hoàng Lêô XIV và các Đức Giáo Hoàng khác đã "rời bỏ" đức tin trong những thập niên kể từ Công đồng Vatican II.
Ba vị giám mục thực hiện nghi thức tấn phong trên danh nghĩa cũng được tường trình theo phái sedevacantist.
Trước đó, vào tháng Sáu, Giám mục Gilbert đã cảnh báo về buổi lễ thánh hiến, lưu ý rằng sự kiện này "sẽ được cử hành mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng" và sẽ là "bất hợp pháp và là một hành vi bất tuân nghiêm trọng".
Ngay cả trước một số tranh cãi vào năm 2026, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế vùng Alps đã vướng vào các tranh chấp liên quan đến vi phạm giáo luật.
Tháng 8 năm 2025, Vatican cho phép Giáo phận Christchurch cấm dòng tu này thực hiện các hoạt động mục vụ công khai trong giáo phận đó giữa những cáo buộc về việc trừ tà trái phép.
Đức Cha Michael Gielen của Christchurch đã nói vào tháng 7 năm 2024 rằng cộng đồng này đã được Giám mục người Úc Robert McGuckin viếng thăm.
Đức Cha Michael Gielen đã tước bỏ quyền hành mục vụ của các thành viên theo khuyến nghị của Vatican và cũng yêu cầu nhóm này "rời khỏi Giáo phận Christchurch".
Source:EWTN News
2. Satan đội lốt linh mục yêu sách Giáo Hội phải cho phép có các ‘linh mục đồng tính’
Tiếp tục hoạt động vận động công khai của mình về các vấn đề LGBT, linh mục James Martin Dòng Tên lập luận rằng Giáo Hội Công Giáo nên chính thức chấp nhận các linh mục "đồng tính".
Trong một bài luận mới được tổ chức ủng hộ LGBT Outreach của ông công bố, linh mục James Martin đã trình bày lập luận của mình về lý do tại sao Giáo hội nên cho phép người đồng tính được gia nhập hàng giáo sĩ. Ông lưu ý rằng ông chỉ ủng hộ việc cho phép nam giới sống độc thân được gia nhập, nhưng sau khi thiết lập điều đó làm nền tảng cho lập luận của mình, vị linh mục Dòng Tên nổi tiếng này kêu gọi Giáo hội thay đổi các quy tắc liên quan đến việc tuyển sinh vào chủng viện và phong chức linh mục.
"Để làm rõ, khi chúng ta nói về việc những người đàn ông đồng tính được phong chức linh mục hoặc được chấp nhận vào các dòng tu, chúng ta đang giả định một cuộc sống độc thân (là lời hứa mà các linh mục đưa ra khi thụ phong) và khiết tịnh (lời thề mà các thành viên của các dòng tu đưa ra)."
Bài luận của ông được viết dựa trên một nghiên cứu năm 2024 do Viện McGrath về Đời sống Giáo hội thực hiện. Nhưng thực ra, các tác giả của nghiên cứu này đã lập luận chống lại việc nhận nam giới có xu hướng đồng tính vào chủng viện chứ không phải ủng hộ như linh mục James Martin nói.
Nghiên cứu này phân biệt giữa sự hấp dẫn đồng giới "ăn sâu" và "tạm thời", giống như Tòa Thánh đã làm trong văn kiện năm 2005 về vấn đề này. Hai tác giả của nghiên cứu thuộc Viện McGrath đã bảo vệ lập trường của Giáo hội trong việc phân biệt giữa hai hình thức hấp dẫn đồng giới, trong đó hình thức thứ nhất cấm nam giới vào chủng viện, còn hình thức thứ hai không hoàn toàn đóng cánh cửa, mặc dù nam giới phải thoát khỏi sự hấp dẫn đó trong nhiều năm trước khi được thụ phong linh mục. Hai tác giả nói rõ rằng những kẻ mà tư duy không vượt qua nổi hạ bộ của mình thì có gì để dạy bảo người khác.
Nhưng đối với Martin, ngôn ngữ của Giáo Hội là sai lầm vì ông coi sự hấp dẫn đồng giới là một phần cốt lõi trong bản sắc của mỗi cá nhân. "Vượt qua cám dỗ hay dục vọng là một chuyện; vượt qua toàn bộ bản năng tình dục của mình lại là chuyện khác," ông viết.
Một vấn đề then chốt trong lập luận của ông, và của nhiều nhà hoạt động LGBT, là việc sử dụng từ "đồng tính luyến ái" để chỉ một cá nhân có sự hấp dẫn đồng giới, gọi tắt là SSA. Giáo hội xem SSA là một cám dỗ hoặc thử thách mà người đàn ông đó phải chống lại, trong khi các nhà hoạt động LGBT lại xem SSA không chỉ là sự hấp dẫn đồng giới nhất thời mà còn là một bản sắc, một phần tự nhiên của mỗi người. Đối với Martin và những người khác, một người đàn ông "đồng tính luyến ái" không chỉ đơn thuần là một người đàn ông có khuynh hướng hấp dẫn đồng giới, mà là người có sự hấp dẫn đồng giới như một phần tự nhiên trong bản sắc của mình.
Chính bằng cách này mà Martin biện hộ cho việc cho phép các linh mục "đồng tính" trở thành một phần của hàng giáo sĩ trong Giáo hội, và ông mô tả ngôn ngữ của các nghiên cứu như của phong trào Courage về việc "vượt qua" sự hấp dẫn đồng giới là "đáng lo ngại". Ông tin tưởng rằng sự hấp dẫn đồng giới không phải là một sự thu hút hay cám dỗ cần phải chống lại, mà là một phần tự nhiên trong bản sắc của người đàn ông do Chúa tạo ra, và nếu như vậy thì tại sao Giáo hội lại không phong chức cho những người đàn ông "đồng tính" giống như cách Giáo hội phong chức cho những người đàn ông dị tính?
Vấn đề ở đây là điều này mâu thuẫn trực tiếp với giáo huấn của Giáo hội. Tòa Thánh coi xu hướng tình dục đồng giới, gọi tắt là SSA là một "tình trạng". Mặc dù tự bản thân nó không phải là tội lỗi, nhưng hành vi đồng tính luyến ái thực sự là tội lỗi, như Vatican đã nêu rõ nhiều lần, kể cả trong văn bản năm 1986 về vấn đề này: "Mặc dù khuynh hướng đặc biệt của người đồng tính luyến ái không phải là tội lỗi, nhưng đó là một xu hướng ít nhiều mạnh mẽ hướng tới một điều ác về mặt đạo đức nội tại; và do đó, bản thân khuynh hướng đó phải được xem là một rối loạn khách quan." Vì lẽ đó, Giáo hội tuyên bố rằng Giáo hội "không thể nhận vào chủng viện hoặc chức thánh những người thực hành đồng tính luyến ái, có khuynh hướng đồng tính luyến ái sâu sắc hoặc ủng hộ ‘văn hóa đồng tính’".
Điều mà Martin đã tiết lộ trong bài luận của mình là ông hoàn toàn chống lại giáo lý của Giáo Hội Công Giáo về đồng tính luyến ái. Đối với ông, đó không phải là một "rối loạn khách quan", mà là một phần tự nhiên của tạo hóa, của sự tồn tại của con người.
Ông cho rằng mình có những bằng chứng giai thoại mà ông cho là ủng hộ quan điểm của mình, nhờ vào việc ngày càng nhiều nam giới mắc chứng đồng tính luyến ái vào các chủng viện trong những thập niên qua. Trong một cuộc gặp riêng với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Martin được Đức Giáo Hoàng cho biết rằng ngài biết "nhiều chủng sinh và linh mục ‘tốt, thánh thiện và độc thân’ là người đồng tính".
"Trong gần 40 năm làm tu sĩ Dòng Tên, tôi đã biết hàng chục linh mục đồng tính sống độc thân, những người đã sống cuộc đời mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô gọi là ‘tốt lành, thánh thiện và độc thân’, noi theo thông điệp về tình yêu thương và lòng thương xót của Chúa Giêsu", Martin nói thêm.
Vị linh mục dòng Tên tiết lộ rằng "vài năm trước", ông đã hỏi một chủng sinh người Mỹ đang học ở Rôma rằng có bao nhiêu bạn cùng lớp "là người đồng tính", và chàng trai trẻ trả lời: "Một nửa trong số họ". Nhưng không ai trong số họ dám tiết lộ sự thật này với cha xứ hay cha linh hướng vì sợ bị đuổi học.
"Lý lẽ thuyết phục nhất cho việc mở ra việc phong chức linh mục cho người đồng tính nam là sự hiện diện của nhiều linh mục đồng tính nam thánh thiện và khỏe mạnh, sống độc thân," Martin lập luận. Ông nói tiếp: "Câu hỏi thực sự là: Một người đàn ông có thể noi gương Chúa Giêsu Kitô trong tình yêu thương, lòng thương xót và sự cảm thông của Ngài trong khi sống độc thân trung thành không? Câu trả lời của các tác giả các nghiên cứu dành cho những người đồng tính nam cảm thấy được ơn gọi làm linh mục dường như là không. Với sự tôn trọng đối với các nghiên cứu và kinh nghiệm của họ, câu trả lời của tôi, dựa trên kinh nghiệm của tôi với nhiều linh mục đồng tính nam thánh thiện và khỏe mạnh trong 40 năm qua, là có." Tuy nhiên, Giáo hội lại không đồng ý. Năm 2005, Bộ Giáo dục Công Giáo đã viết về những người đàn ông có "xu hướng đồng tính luyến ái sâu sắc": "Những người như vậy, trên thực tế, thấy mình ở trong tình huống cản trở nghiêm trọng khả năng thiết lập mối quan hệ đúng đắn với nam giới và nữ giới. Không được phép bỏ qua những hậu quả tiêu cực có thể phát sinh từ việc phong chức linh mục cho những người có xu hướng đồng tính luyến ái sâu sắc." Do giáo huấn của Giáo hội cho rằng đồng tính luyến ái là "một rối loạn khách quan", Bộ này lưu ý rằng chỉ riêng việc sống độc thân thôi là chưa đủ để được thụ phong linh mục. Thay vào đó, một linh mục tương lai phải có khả năng thiết lập mối quan hệ "đúng đắn" với giáo dân của mình, điều này đòi hỏi đương sự không được có xu hướng đồng tính luyến ái.
Năm 2005, Vatican viết: "Nếu một ứng viên thực hành đồng tính luyến ái hoặc có những khuynh hướng đồng tính luyến ái sâu sắc, thì cha hướng dẫn tâm linh cũng như cha giải tội của người đó có nhiệm vụ khuyên can người đó về mặt lương tâm không nên tiếp tục tiến tới thụ phong linh mục."
Theo quy định của Dòng, những người đàn ông chỉ có "vấn đề tạm thời" về "xu hướng đồng tính luyến ái" có thể được nhận vào chủng viện, nhưng những xu hướng này phải "được khắc phục rõ ràng ít nhất ba năm trước khi thụ phong phó tế".
Tên của Martin đồng nghĩa với việc ủng hộ quyền LGBT trong Giáo Hội Công Giáo, ông đã đạt được vị thế nổi bật dưới thời Đức Giáo Hoàng Phanxicô, và thực tế, ít nhất một phần là nhờ vị Đức Giáo Hoàng người Á Căn Đình, người đã tiếp đón Martin trong buổi tiếp kiến và trực tiếp ủng hộ các hoạt động LGBT của vị linh mục này.
Ông đã trở thành một trong những nhân vật gây chia rẽ nhất trong Giáo hội, đặc biệt là trong cộng đồng Công Giáo Mỹ. Một số hành động gây tranh cãi hơn của ông, ngoài việc ủng hộ những người đồng tính luyến ái, bao gồm việc mô tả quan niệm về Thiên Chúa là nam giới là "có hại", thúc đẩy hôn nhân dân sự đồng giới và cổ vũ hình ảnh Chúa Kitô là người đồng tính.
Vị linh mục này từng là tâm điểm tranh cãi trong các cuộc họp của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ. Đức Hồng Y Raymond Burke trước đây cho rằng các thuyết của Martin "không phù hợp với giáo huấn của Giáo hội về đồng tính luyến ái", và cựu Tổng Giám Mục Charles Chaput của Philadelphia nói rằng Martin không phát ngôn "với thẩm quyền thay mặt Giáo hội". Do "sự nhầm lẫn gây ra bởi những tuyên bố và hoạt động của ông ta liên quan đến các vấn đề đồng tính, gọi tắt là LGBT", Chaput còn kêu gọi "các tín hữu nên thận trọng về một số tuyên bố của ông".
Đức Ông Stephen Rossetti, Nhà Trừ Tà của giáo phận Syracuse, phó giáo sư nghiên cứu tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ, không nêu rõ tên của linh mục Martin, đã cảnh cáo anh chị em giáo dân rằng Satan cũng có thể đội lốt linh mục yêu sách Giáo Hội phải phong chức cho những người đồng tính.
Source:Catholic Herald
3. Tìm hiểu tiến trình tuyên thánh. Trường hợp của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận
Đức Ông Robert Sarno, chuyên gia phục vụ trong Bộ Tuyên Thánh suốt 38 năm, sau khi đã là linh mục của giáo phận Brooklyn Hoa Kỳ, có bài viết nhan đề "Saints", nghĩa là "Các Thánh" được đăng trên web site của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ.
Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.
Trong năm thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, quá trình công nhận một vị thánh dựa trên sự tung hô của công chúng, nghĩa là dựa trên nguyên tắc vox populi, vox Dei - tiếng nói của người dân, tiếng nói của Chúa. Không có quá trình chính thức nào giống với các tiêu chuẩn chúng ta thấy ngày nay. Bắt đầu từ thế kỷ thứ sáu và kéo dài đến thế kỷ thứ mười hai, cần có sự can thiệp của giám mục địa phương trước khi một ai đó có thể được tuyên thánh. Sự can thiệp của Đức Giám Mục bản quyền thường bắt đầu bằng yêu cầu của cộng đồng địa phương xin Đức Giám Mục địa phương công nhận một ai đó là thánh. Sau khi nghiên cứu yêu cầu và tiểu sử viết tay, nếu thấy thuận lợi, Đức Giám Mục thường sẽ ban hành sắc lệnh, hợp pháp hóa nghi lễ phụng vụ và do đó tuyên thánh cho người đó.
Bắt đầu từ thế kỷ thứ mười, án tuyên thánh được tiến hành theo các bước như sau: danh tiếng của người đó lan rộng, có yêu cầu từ người dân xin giám mục địa phương tuyên bố người đó là thánh, và tiểu sử được viết ra để giám mục xem xét. Tuy nhiên, hiện nay, giám mục sẽ thu thập lời khai của những người biết người đó và những người đã chứng kiến phép lạ, và ngài sẽ cung cấp tóm tắt về vụ việc cho Đức Giáo Hoàng để vị mục tử toàn thể Hội Thánh chấp thuận. Sau đó, Đức Giáo Hoàng xem xét nguyên nhân, và nếu chấp thuận, ngài sẽ ban hành sắc lệnh tuyên bố người đó là thánh. Trường hợp đầu tiên được ghi chép về án tuyên thánh do một Giáo Hoàng chuẩn y là khi Đức Giáo Hoàng Gioan 15 vào ngày 31 Tháng Giêng năm 993 tuyên thánh cho Thánh Ulric. Khi Đức Giáo Hoàng Sixtô Đệ Ngũ tổ chức lại Giáo triều Rôma vào năm 1588, ngài đã thành lập Bộ Nghi lễ Thánh. Một trong những chức năng của bộ này là hỗ trợ Đức Giáo Hoàng xem xét các án tuyên thánh. Ngoại trừ một số cập nhật cho phù hợp với giáo luật, từ năm 1588, quá trình tuyên thánh vẫn như vậy cho đến năm 1917 khi Bộ Giáo luật phổ quát được ban hành.
Bộ luật năm 1917 bao gồm 145 điều luật (từ số 1999 đến số 2144) về án tuyên thánh, và yêu cầu phải tiến hành một quá trình giám mục và một quá trình tông tòa. Tiến trình giám mục bao gồm giám mục địa phương xác minh danh tiếng của người đó, bảo đảm rằng có tiểu sử rõ ràng, thu thập lời khai của nhân chứng và các tác phẩm do người đó viết ra. Tất cả những điều này sau đó được chuyển đến Bộ Nghi lễ Thánh. Tiến trình tông tòa bao gồm xem xét các bằng chứng được nộp, thu thập thêm bằng chứng, nghiên cứu án tuyên thánh, điều tra bất kỳ phép lạ nào được cho là đã xảy ra và cuối cùng chuyển án tuyên thánh lên Đức Giáo Hoàng để ngài chấp thuận.
Tiến trình này vẫn có hiệu lực cho đến năm 1983 với việc ban hành Bộ Giáo luật năm 1983 và các chuẩn mực mới cho các nguyên nhân tuyên thánh: Divinus Perfectionis Magister, Normae Servandae in Inquisitionibus ab Episcopis Faciendis in Causis Sanctorum và Sanctorum Mater, hay 2007. Tiến trình sửa đổi vào năm 1983 này cho các án tuyên thánh vẫn có hiệu lực cho đến nay và được trình bày chi tiết bên dưới.
Không có số lượng chính xác những người đã được tuyên thánh kể từ những thế kỷ đầu tiên. Tuy nhiên, vào năm 1988, để đánh dấu 400 năm thành lập, Bộ Tuyên Thánh đã xuất bản "Index ac Status Causarum" đầu tiên. Cuốn sách này và các phần bổ sung sau đó, được viết hoàn toàn bằng tiếng Latin, được coi là chỉ mục chính thức của tất cả các vụ án đã được trình lên Bộ kể từ khi thành lập.
Tiến trình tuyên thánh từ năm 1983 bao gồm các bước sau:
Giai đoạn I – Khảo sát cuộc đời của một ứng viên tuyên thánh ở cấp Giáo phận (hoặc Giáo phận chính thống Đông phương)
Phải mất năm năm kể từ thời điểm ứng viên qua đời trước khi án tuyên thánh có thể bắt đầu. Điều này là để cho phép cân bằng và khách quan hơn trong việc đánh giá trường hợp và để cho cảm xúc của thời điểm người ấy qua đời tan biến. Đức Giáo Hoàng có thể miễn trừ thời gian chờ đợi này.
Giám mục của giáo phận nơi người đó qua đời có trách nhiệm bắt đầu cuộc điều tra. Người thỉnh cầu (có thể là giáo phận, giám mục, dòng tu hoặc hiệp hội tín hữu) yêu cầu giám mục thông qua một người được gọi là Postulator hay cáo thỉnh viên, là người đề nghị mở cuộc điều tra.
Sau đó, giám mục bắt đầu một loạt các cuộc tham khảo ý kiến với hội đồng giám mục, các tín hữu trong giáo phận của mình và Tòa thánh. Sau khi các cuộc tham khảo ý kiến này hoàn tất và ngài đã nhận được ý kiến "nihil obstat", nghĩa là "không có gì ngăn trở" từ Tòa thánh, ngài sẽ thành lập một tòa án cấp giáo phận cho án tuyên thánh. Tòa án sẽ điều tra về sự tử đạo hoặc cách ứng viên sống một cuộc sống với các nhân đức anh hùng, tức là các nhân đức đối thần về đức tin, đức cậy và đức mến, và các nhân đức cốt yếu về sự khôn ngoan, công bằng, tiết độ và lòng dũng cảm, và những nhân đức khác cụ thể đối với tình trạng sống của ứng viên. Các nhân chứng sẽ được triệu tập và các tài liệu do ứng viên viết và các tài liệu về ứng viên phải được thu thập và xem xét.
Giai đoạn II: Bộ Tuyên thánh
Sau khi cuộc điều tra của giáo phận hoàn tất, tài liệu sẽ được gửi đến Bộ Tuyên thánh. Ứng viên có thể được gọi là "Servus Dei" hay vị "Tôi Tớ Chúa".
Người thỉnh nguyện cho giai đoạn này, cư trú tại Rôma, dưới sự chỉ đạo của một thành viên trong đội ngũ nhân viên của Bộ. Người thỉnh nguyện sống ở Rôma này cũng được gọi là Postulator hay cáo thỉnh viên ở cấp Tòa Thánh, chuẩn bị một 'Positio', nghĩa là một bản tóm tắt bằng chứng tài liệu từ giai đoạn giáo phận để chứng minh việc thực hành đức hạnh anh hùng hoặc sự tử đạo.
'Positio' trải qua một cuộc kiểm tra của chín nhà thần học bỏ phiếu về việc ứng viên có sống một cuộc sống anh hùng hay chịu tử đạo hay không. Nếu phần lớn các nhà thần học ủng hộ, thì án tuyên thánh được chuyển lên để các Hồng Y và giám mục là thành viên của Hội đồng thẩm định. Nếu phán quyết của các ngài là thuận lợi, thì vị trưởng Hội đồng sẽ trình bày kết quả của toàn bộ quá trình của án tuyên thánh lên Đức Giáo Hoàng, là người sẽ chấp thuận và ủy quyền cho Hội đồng soạn thảo một sắc lệnh tuyên bố một người là Venerabilis – hay Bậc đáng kính nếu họ đã sống một cuộc sống đức hạnh.
Trường hợp của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh ngày 17 tháng 4 năm 1928, tại Huế, thuộc dòng họ có truyền thống Công Giáo lâu đời. Ngài qua đời ngày 16 tháng 9 năm 2002 và được toàn thế giới biết đến là một bậc chân tu cao cấp của Giáo Hội Công Giáo Rôma, người Việt Nam. Ngài nổi tiếng trên toàn thế giới như một "chứng nhân của hy vọng", để lại dấu ấn sâu sắc qua đức tin kiên định, tinh thần tha thứ và các tác phẩm linh đạo giá trị.
Ngài từng giữ chức Giám mục Giáo phận Nha Trang từ 1967 đến 1975 và sau đó là Tổng Giám mục Phó Tổng giáo phận Sài Gòn.
Sau năm 1975, ngài trải qua 13 năm kiên giam, trong đó có 9 năm biệt giam.
Trong thời gian lao tù, ngài âm thầm cử hành Thánh lễ trên lòng bàn tay với vài giọt rượu và mẩu bánh mì vụn do gia đình gửi vào.
Năm 1998, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình.
Ngài được vinh thăng Hồng Y vào năm 2001.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài là cuốn Đường Hy Vọng (viết trên những mảnh giấy nhỏ trong tù) và tập sách Toát yếu Giáo lý Xã hội của Giáo hội do ngài chỉ đạo biên soạn với tư cách là Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình.
Ngày 4 Tháng Năm, 2017, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên ngài là Đấng Đáng Kính.
Giai đoạn III – Phong chân phước
Đối với việc phong chân phước cho một vị đáng kính, cần phải có một phép lạ được cho là do sự chuyển cầu của ngài, được xác minh sau khi ngài qua đời. Phép lạ cần thiết phải được chứng minh thông qua cuộc điều tra giáo luật thích hợp, theo một thủ tục tương tự như đối với các nhân đức anh hùng. Cuộc điều tra này cũng được kết thúc bằng sắc lệnh thích hợp. Sau khi sắc lệnh về phép lạ được công bố, Đức Giáo Hoàng sẽ ban hành lệnh phong chân phước, tức là cho phép việc tôn kính công khai có giới hạn - thường chỉ trong phạm vi quốc gia, giáo phận, vùng hoặc cộng đồng tôn giáo nơi vị chân phước đã sống. Với quyết định này, ứng viên sẽ nhận được danh hiệu Chân phước hay Á Thánh.
Đối với một vị tử đạo, không cần phép lạ. Do đó, khi Đức Giáo Hoàng chấp thuận positio tuyên bố rằng người đó đã tử đạo vì đức tin, thì danh hiệu Chân phước sẽ được ban cho vị tử đạo tại thời điểm đó.
Trong trường hợp của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, giờ đây, cần có 1 phép lạ do lời cầu bầu của ngài để được tuyên Chân Phước; và sau đó cần có một phép lạ thứ hai xảy ra sau giai đoạn Chân Phước để được tuyên thánh.
Vì thế, tin cho rằng tin cho rằng Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận sắp được tuyên thánh là tin giả, được những kẻ dốt nát tung ra. Anh chị em hãy cẩn thận.
Giai đoạn IV – Tuyên thánh
Để tuyên thánh, cần có một phép lạ khác cho cả các vị chân phước tử đạo và các vị chân phước đã sống một cuộc đời đức hạnh. Phép lạ này được cho là nhờ sự chuyển cầu của vị chân phước và đã xảy ra sau khi được phong chân phước.
Các phương pháp để khẳng định phép lạ cũng giống như các phương pháp được áp dụng để phong chân phước. Việc tuyên thánh cho phép Giáo hội hoàn vũ tôn kính vị thánh một cách công khai. Với việc tuyên thánh, vị chân phước sẽ có được danh hiệu là Sanctus hay là Thánh.
Đức Ông Robert Sarno
Bộ Tuyên thánh
Thành phố Vatican
4. Đức Giáo Hoàng lặp lại lời kêu gọi hòa bình ở Trung Đông.
Hôm Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nhắc lại lời kêu gọi hòa bình ở Trung Đông, sau một tuần chứng kiến bạo lực chết người của những người định cư Israel ở Bờ Tây, các cuộc tấn công quân sự của Israel vào Gaza và các hoạt động tăng cường của Mỹ chống lại Iran.
Lời kêu gọi mới của Đức Giáo Hoàng được đưa ra trong bài phát biểu sau buổi cầu nguyện Angelus hôm Chúa Nhật, 26 Tháng Bẩy, tại dinh thự mùa hè của Đức Giáo Hoàng ở Castel Gandolfo.
Một loạt vụ bạo lực chết người do người định cư Israel gây ra ở khu Bờ Tây bị tạm chiếm đã dẫn đến cuộc đàn áp của lực lượng Israel vào cuối tuần này, khiến hàng chục người Palestine bị bắt giữ, trong khi các cuộc tấn công quân sự của Israel nhằm vào các mục tiêu ở Gaza vẫn tiếp diễn.
Cuối tuần này, các cuộc tấn công của Mỹ nhằm vào các mục tiêu ở Iran đã tạm dừng, sau gần hai tuần liên tục diễn ra vào ban đêm gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng – và cũng được tường trình đã làm dấy lên một số lo ngại về chiến lược và chính trị từ các nhà lãnh đạo cao cấp phía Mỹ.
Bờ Tây và Gaza
Quân đội Israel cho biết họ đã bắt giữ hơn 70 nghi phạm trên khắp khu Bờ Tây bị tạm chiếm từ thứ Sáu đến thứ Bảy, sau khi binh lính được triển khai khắp lãnh thổ này sau vụ bạo lực của người định cư khiến bốn dân làng Palestine và hai binh sĩ Israel thiệt mạng.
Các báo cáo đêm qua cho biết lực lượng Israel đã bắt giữ tới 40 người Palestine tại thành phố Nablus.
Hôm Chúa Nhật, Ai Cập bày tỏ lo ngại về cuộc đàn áp của Israel, viện dẫn "các hành vi bạo lực và đe dọa cũng như đốt phá nhà cửa, tài sản và các địa điểm tôn giáo, và các cuộc tấn công vào thường dân" do những người định cư thực hiện.
Tại Gaza, Israel tiếp tục tiến hành các cuộc tấn công gần như hàng ngày, bất chấp lệnh ngừng bắn đã có hiệu lực chín tháng trước. Một cuộc tấn công của Israel vào cuối tuần đã giết chết ủy viên cảnh sát ở phía bắc Gaza, trong khi các cuộc tấn công khác của Israel được tường trình đã khiến dân thường thiệt mạng và bị thương.
Israel tuyên bố viên cảnh sát trưởng này là thành viên của tổ chức quân sự Hamas, nhưng Bộ Nội vụ Gaza cho rằng việc Israel tấn công vào các quan chức cảnh sát cao cấp nhằm mục đích gieo rắc "hỗn loạn" trong khu vực.
Hôm Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng cho biết ngài "đang theo dõi với sự lo ngại tình trạng bạo lực tiếp diễn và ngày càng trầm trọng ở Thánh Địa, trong đó nhiều thường dân gần đây đã trở thành nạn nhân, ở Bờ Tây và Gaza."
"Tôi tha thiết kêu gọi quay trở lại đàm phán để tìm ra giải pháp chính trị công bằng dựa trên phẩm giá và quyền bình đẳng của mỗi con người", Đức Lêô cũng nói.
Đức Giáo Hoàng cũng kêu gọi "bác bỏ các hành động quân sự mới và các quyết định đơn phương, đặc biệt là những hành động vi phạm sự tôn trọng và hiện trạng của các thánh địa thuộc mọi tôn giáo."
Iran và khu vực
Các cuộc tấn công của Mỹ nhằm vào các mục tiêu ở Iran dường như đã "tạm dừng" vào cuối tuần này, sau khi các quan chức quân sự và dân sự cao cấp của Mỹ được tường trình đã bày tỏ lo ngại về một loạt vấn đề, bao gồm kho dự trữ vũ khí của Mỹ và nguy cơ leo thang căng thẳng nghiêm trọng.
Chuỗi 13 đêm tấn công của Mỹ đã gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng điện và nước ở Iran, và dẫn đến các cuộc tấn công trả đũa từ chế độ Hồi giáo, nhắm vào các đồng minh của Mỹ trong khu vực.
Một số cuộc tấn công trả đũa đó nhắm vào cơ sở hạ tầng dân sự ở Kuwait.
Trong khi đó, các quan chức Iran báo cáo tình trạng gián đoạn nguồn nước sinh hoạt đối với hàng ngàn người dân sống tại các làng mạc phụ thuộc vào các cơ sở hạ tầng bị ảnh hưởng bởi các cuộc không kích của Mỹ tại Iran.
Đức Lêô cho biết hôm Chúa Nhật: "Các hoạt động quân sự leo thang đã gây ra bạo lực và tàn phá, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng của nhiều thường dân và làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nước uống và điện."
Đức Giáo Hoàng nói: "Từ tận đáy lòng, tôi kêu gọi tất cả các bên liên quan ngừng các cuộc tấn công và khẩn trương mở lại các không gian đối thoại và ngoại giao, để sớm đạt được nền hòa bình mà mọi người mong muốn cho toàn khu vực."
Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi các tín hữu trên toàn thế giới cầu nguyện cho tất cả những người bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.
"Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho tất cả các dân tộc trên thế giới đang đau khổ vì chiến tranh," ngài cầu nguyện. "Xin Chúa chạm đến trái tim và soi sáng tâm trí của những người chịu trách nhiệm," Đức Lêô cầu nguyện, "để sự hòa giải và hòa bình sớm được thiết lập."
Lời kêu gọi cứu trợ các vụ cháy rừng ở Âu Châu
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV cũng cầu nguyện cho các nạn nhân của các vụ cháy rừng đang hoành hành khắp khu vực tây nam Âu Châu, khiến ít nhất một người thiệt mạng và khoảng 250.000 người khác phải di dời cho đến nay.
"Trước những trận hỏa hoạn tàn khốc đã ảnh hưởng đến nhiều vùng của Pháp và Tây Ban Nha trong những ngày gần đây," Đức Lêô nói, "Tôi bày tỏ sự cảm thông sâu sắc và kêu gọi mọi người cầu nguyện cho những người bị ảnh hưởng và cho công việc của lực lượng cấp cứu."
Diễn biến thời tiết thay đổi liên tục vào cuối tuần đã tạo ra những thách thức rất lớn cho lực lượng cứu hỏa ở cả hai quốc gia.
Source:CRUXNOW