Ngày 15-08-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Chúa Nhật thứ 20 mùa Thường Niên A
Giáo Hội Năm Châu
02:45 15/08/2026

BÀI ĐỌC 1 Is 56:1,6-7
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
Đức Chúa phán như sau:
Hãy tuân giữ điều chính trực, thực hành điều công minh, vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới, và đức công chính của Ta sắp được biểu lộ.
Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cùng trở nên tôi tớ của Người, hết những ai giữ ngày sa-bát mà không vi phạm, cùng những ai tuân thủ giao ước
của Ta, đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta. Trên bàn thờ của Ta, Ta sẽ ưng nhận những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng, vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân.
Đó là Lời Chúa.

BÀI ĐỌC 2 Rm 11:13-15,29-32
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
Thưa anh em, tôi xin ngỏ lời với anh em là những người gốc dân ngoại. Với tư cách là Tông Đồ các dân ngoại, tôi coi trọng chức vụ của tôi, mong sao nhờ vậy mà tôi làm cho anh em đồng bào tôi phải ganh tị, và tôi cứu được một số anh em đó. Thật vậy, nếu vì họ bị gạt ra một bên mà thế giới được hoà giải với Thiên Chúa, thì việc họ được thâu nhận lại là gì, nếu không phải là từ cõi chết bước vào cõi sống?
Quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý. Thật vậy, trước kia anh em đã không vâng phục Thiên Chúa, nhưng nay anh em đã được thương xót, vì con dân Ít-ra-en không vâng phục; họ cũng thế: nay họ không vâng phục Thiên Chúa, vì Người thương xót anh em, nhưng đó là để chính họ cũng được thương xót. Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người.
Đó là Lời Chúa.

TUNG HÔ TIN MỪNG x. Mt 4:23
Alleluia. Alleluia. Đức Giê-su rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân Alleluia.

TIN MỪNG Mt 15:21-28

Tin mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát- thêu.

Khi Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn, thì này có một người đàn bà Ca-na-an ở vùng ấy đi ra, kêu lên rằng: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!” Nhưng Người không đáp lại một lời. Các môn đệ lại gần xin với Người rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!” Người đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.” Nhưng bà ấy đến bái lạy mà thưa Người rằng: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” Người đáp: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” Bà ấy nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Bấy giờ Đức Giê-su đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy.” Từ giờ đó, con gái bà được khỏi bệnh.
Đó là Lời Chúa.
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Bài giảng về Lễ Đức Mẹ Lên Trời của Đức Giáo Hoàng: Vẻ đẹp của Đức Mẹ
Vũ Văn An
14:42 15/08/2026

leo-candles.jpg. Nguồn ảnh: Gregorio Borgia | AFP


Hình ảnh của Mẹ dường như tương phản với trải nghiệm của chúng ta về những gì thời gian trôi qua tác động lên chúng ta.... Chúng ta có điểm chung gì với người phụ nữ trẻ đẹp được miêu tả trên bàn thờ trong các nhà thờ của chúng ta?

Kathleen N. Hattrup, trong bản tin ngày 15/08/2026 của tạp chí Aleteia, cho hay: Dành thêm vài ngày ở Castel Gandolfo, Đức Giáo Hoàng Leo XVI đã cử hành Thánh lễ mừng Lễ Đức Mẹ Lên Trời tại nhà thờ giáo xứ địa phương, nơi được dành riêng cho một trong những người cùng dòng Augustinô với ngài, Thánh Thomas Villanova.

Đức Giáo Hoàng đã suy ngẫm về hình ảnh Đức Trinh Nữ vinh hiển được đưa lên thiên đàng, và từ đó rút ra lời mời gọi tìm kiếm vẻ đẹp đích thực.

Sau đây là bản dịch đầy đủ bài giảng của ngài:
~

Anh chị em thân mến

Tôi rất vui mừng được cùng anh chị em cử hành Lễ trọng kính Đức Mẹ Lên Trời một lần nữa trong năm nay.

Giáo huấn của Giáo hội dạy chúng ta rằng Đức Mẹ “sau khi hoàn thành cuộc đời trần thế, đã được rước cả hồn lẫn xác lên thiên quốc” (Đức Giáo Hoàng Piô XII, Tông Hiến Munificentissimus Deus, ngày 1 tháng 11 năm 1950) và chỉ cho chúng ta thấy, trong Mầu nhiệm này, sự viên mãn của ân sủng trọn vẹn nhất mà Thiên Chúa đã ban cho Mẹ khi Mẹ được thụ thai vô nhiễm (xem ibid.).

Vì lý do này, nhiều tác phẩm nghệ thuật miêu tả Mẹ như một thiếu nữ xinh đẹp đang bay lên từ trần gian hướng về trời cao vào cuối cuộc đời trần thế của Mẹ. Những tác phẩm này được lấy cảm hứng từ cảnh tượng được mô tả trong đoạn Kinh Thánh Khải Huyền mà chúng ta đã nghe trong Bài Đọc Thứ Nhất: “Một người phụ nữ mặc áo choàng bằng mặt trời, mặt trăng ở dưới chân” (Khải Huyền 12:1), biểu thị rằng trong trái tim Đức Mẹ, trời và đất, thời gian và vĩnh cửu gặp nhau.

Thoạt nhìn, hình ảnh này dường như tương phản với kinh nghiệm của chúng ta về những gì năm tháng trôi qua tác động lên chúng ta. Khi chúng ta già đi, thân thể không trở nên nhanh nhẹn hơn, mà nặng nề hơn; da thịt không trở nên tươi trẻ hơn, mà lộ rõ dấu hiệu của tuổi già; tóc không trở nên màu sắc và bóng mượt hơn, mà chuyển sang màu xám rồi trắng. Vậy, chúng ta có điểm chung gì với người phụ nữ trẻ đẹp được miêu tả trên các bàn thờ trong nhà thờ của chúng ta?

Để hiểu điều này, chúng ta phải kết hợp hai dấu hiệu mà chúng ta đã đề cập: thân thể không bị phân hủy của Mẹ Thiên Chúa và trái tim vô nhiễm của Mẹ. Bởi vì chính sự thanh khiết của tâm hồn, nơi Đức Mẹ - cũng như nơi chúng ta - nhờ ân sủng của Thiên Chúa, soi sáng và biến đổi toàn bộ con người, dẫn chúng ta đến vinh quang Thiên đàng.

Việc tôn vinh Đức Mẹ Maria, cả thể xác lẫn linh hồn, dạy chúng ta rằng vẻ đẹp thực sự của chúng ta không nằm ở việc che giấu dấu hiệu lão hóa, mà ở việc bày tỏ những dấu hiệu của tình yêu bất diệt, thậm chí còn in hằn trên thân xác chúng ta (xem 1 Cô-rinh-tô 13:8).

Với suy nghĩ này, chúng ta được mời gọi xem xét lại nhiều tiêu chuẩn thẩm mỹ, chủ yếu mang tính hưởng lạc và tiêu dùng, mà thế giới áp đặt lên chúng ta. Những tiêu chuẩn này có nguy cơ giam hãm chúng ta trong những kỳ vọng nặng nề, khiến chúng ta lãng phí năng lượng quý báu vào những điều không thực sự quan trọng và không tồn tại mãi mãi. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta gặp những người có khuôn mặt hằn dấu vết của năm tháng và đau khổ, nhưng vẫn có khả năng tỏa ra sự thanh thản, lòng tốt và bình an xung quanh họ; cũng như chúng ta có thể quan sát những người khác có vẻ ngoài hấp dẫn nhưng lại cứng rắn và lạnh lùng trong lòng. Thật dễ dàng để thấy vẻ đẹp thực sự nằm ở đâu và mặt khác, ở đâu vẫn cần sự hoán cải, tha thứ và chữa lành.

Nếu chúng ta thực sự muốn khám phá và nuôi dưỡng vẻ đẹp thiêng liêng bao quanh ta và vì điều đó mà ta được tạo nên, và để chia sẻ vẻ đẹp ấy với những người xung quanh, chúng ta phải học cách nhìn thấy nó trong những nếp nhăn của người già cũng như trong khuôn mặt dịu dàng của một đứa trẻ, trong sự trưởng thành của người lớn cũng như trong sự sống động của người trẻ, trong quần áo và dụng cụ lao động cũng như trong những đồ trang trí lễ hội. Chúng ta phải lắng nghe những câu chuyện tình yêu độc đáo mà mỗi thực tại này kể cho chúng ta nghe, nhận ra trong đó những thoáng nhìn nhỏ bé về thiên đường.

Tình yêu là sự tô điểm đẹp nhất của nhân loại. Tình yêu biến đổi, chuyển hóa, cao quý hóa và nâng đỡ chúng ta, làm cho chúng ta nhẹ nhàng, tự do và gần gũi với Chúa, ngay cả giữa những thăng trầm của cuộc sống.

Suy niệm về mầu nhiệm Đức Mẹ Lên Trời, Thánh Phaolô VI nói rằng để hiểu ý nghĩa của mầu nhiệm này, “chúng ta phải biến đổi những thuật ngữ mà chúng ta sử dụng trong ngôn ngữ trần tục và tạm thời thành những thuật ngữ tuyệt vời và tuyệt đối […], để hình dung sự vĩnh hằng trên một quy mô nhỏ” (Bài giảng, ngày 15 tháng 8 năm 1969). Về cuộc gặp gỡ giữa vô hạn và hữu hạn nơi Mẹ Thiên Chúa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết: “Đức Mẹ đã có thể biến một chuồng gia súc thành một ngôi nhà cho Chúa Giêsu, với những chiếc tã lót nghèo nàn và một tình yêu thương dạt dào” (Tông huấn Evangelii Gaudium, 286).

Phép lạ mà Đức Mẹ, trinh nữ thành Na-da-rét, đã trải nghiệm trong trái tim trong trắng của mình, điều đã dẫn Mẹ đến vinh quang Thiên đàng, là một cuộc gặp gỡ của những thái cực, như chính Mẹ đã làm chứng trong những lời được linh cảm của bài ca Magnificat, mà chúng ta đã nghe trong Tin Mừng (xem Lc 1:46–55). Trong bài ca này, qua những biểu hiện khiêm nhường của Mẹ... Trong đức tin của chúng ta, Mẹ Thiên Chúa nói với chúng ta bằng những lời lẽ đơn giản về những mầu nhiệm kỳ diệu mà Mẹ đã trải nghiệm, chẳng hạn như việc Thiên Chúa trở thành người trong Mẹ để cứu rỗi nhân loại, và Đấng Vĩnh Hằng tự tỏ mình ra trong thời gian để mở lại con đường đến cõi vĩnh hằng cho chúng ta. Đồng thời, trong vị trí là một “tôi tớ khiêm nhường”, Thánh Phaolô VI nói rằng Đức Mẹ cho chúng ta thấy “chiều kích khiêm nhường” trong đó chúng ta cũng có thể gặp gỡ Chúa.

Chúng ta không cần phải tìm kiếm xa xôi để thấy được sự cao cả của Mầu nhiệm mà chúng ta cử hành. Chúng ta có thể gặp được điều đó ở bất cứ nơi nào có lòng bác ái đích thực. Ví dụ, trong ánh mắt của một người cha và người mẹ trở về nhà sau một ngày dài, mệt mỏi nhưng hạnh phúc khi được ở bên con cái. Trong khuôn mặt của những ông bà, dù đau nhức tuổi già, vẫn tràn đầy năng lực bất ngờ khi chăm sóc cháu. Trong sự tận tâm của những người trẻ tuổi cố gắng trưởng thành trong đạo đức và sự chân thành, sẵn sàng đi ngược lại với “những gì mọi người khác làm”. Cuối cùng, trong công việc hằng ngày của rất nhiều người nam nữ, với đức tin và sự tận tụy, giúp mang một chút Thiên đường xuống trần gian và đưa trần gian đến gần Thiên đường hơn.

Các bạn thân mến, dung mạo xinh đẹp của Đức Mẹ Lên Trời thật độc nhất vô nhị; nó vượt lên trên mọi sự miêu tả có thể, nhưng đồng thời lại rất quen thuộc với chúng ta. Ngay cả lúc này, chúng ta cũng có thể thấy dung mạo của Mẹ nơi những người thân yêu, như anh chị em ruột thịt, những người mà chúng ta cùng chia sẻ sự hiến dâng hằng ngày trong đức tin. Vì lý do này, cộng đồng tín hữu nhìn thấy chính mình trong người phụ nữ của Sách Khải Huyền, và Công đồng Vatican II mô tả Đức Mẹ là “hình ảnh và khởi đầu của Giáo Hội, […] như một dấu hiệu của niềm hy vọng và an ủi chắc chắn” (Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 68). Trong bản tính thánh thiện của Mẹ, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta cũng thấy được bản tính của chính mình; do đó, chúng ta cũng được mời gọi sống một cuộc sống tràn đầy ân sủng như Mẹ đã sống và chia sẻ vinh quang của Mẹ.

Khi nói về sự phục sinh của Chúa Kitô, Thánh Augustinô đã khuyên các Kitô hữu thời bấy giờ hãy lấy đó làm kim chỉ nam và trọng tâm của cuộc sống mình. Ngài nói: “Chúa Kitô đã sống lại từ cõi chết để Người không bao giờ chết nữa […]. Hãy thay đổi hướng đi, hãy theo ánh sáng! Hãy bắt đầu sống dậy từ chính nơi Người đã sống lại” (Enarratio in Psalmos, 126:7).

Chúng ta hãy chấp nhận lời mời gọi của ngài. Chúng ta hãy theo ánh sáng của Chúa Phục Sinh, thay đổi hướng đi nếu cần thiết. Đặc biệt là hôm nay, chúng ta hãy hướng về Đức Mẹ Maria, người mà Thiên Chúa đã ban vinh quang cả hồn lẫn xác, và người mà Người đã trao cho chúng ta làm Mẹ, người dẫn đường, người bạn đồng hành trên hành trình của chúng ta, và người bảo vệ trên con đường đến Thiên Đàng.
 
Đức Giáo Hoàng Leo kêu gọi đào tạo phụng vụ và trung thành với các quy định của Thánh lễ
Vũ Văn An
15:02 15/08/2026

Tạp chí Catholic World News, ngày 14 tháng 8 năm 2026, cho hay: Đức Giáo Hoàng Leo XIV kêu gọi nhấn mạnh hơn nữa vào việc đào tạo phụng vụ trong Thánh lễ Chúa nhật, cũng như sự trung thành với các quy định của Sách lễ Rôma.



“Những cơ hội thực tiễn đầu tiên để đào tạo phụng vụ xuất hiện trong việc thực hành thường xuyên của chúng ta khi quy tụ lại mỗi Chúa nhật để cử hành Thánh Thể,” Đức Giáo Hoàng Leo viết trong một bức thư gửi Đức Hồng Y Arthur Roche, Bộ trưởng Bộ Phụng vụ và Kỷ luật các Bí tích, nhân dịp một hội nghị phụng vụ tại Tu viện Mount Angel ở Oregon. “Những lễ cử hành này được neo giữ trong nhịp điệu hàng năm của năm phụng vụ, với Mầu nhiệm Phục sinh ở trung tâm.”

“Vì lý do này, điều thiết yếu là chúng cũng phải mang tính đào tạo sâu sắc, thúc đẩy sự hiểu biết ngày càng sâu sắc hơn về ars celebrandi [nghệ thuật cử hành], được thể hiện không chỉ bởi người chủ tế phụng vụ, mà còn bởi toàn thể cộng đoàn,” Đức Giáo Hoàng Leo nói thêm trong bức thư của ngài, đề ngày 29 tháng 6 và được công bố hôm nay.

Đức Giáo Hoàng cũng nói về “sự cần thiết phải trung thành với các văn bản và hướng dẫn đã được phê chuẩn. Trong các bài giáo lý gần đây của tôi về Hiến chương Phụng vụ Thánh, Sacrosanctum Concilium, tôi đã lưu ý đến sự tôn trọng mà tất cả những người được kêu gọi chuẩn bị việc cử hành các mầu nhiệm thần linh, và đặc biệt là các linh mục, phải thể hiện đối với các nghi thức do Đức Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành.”

Nguyên văn lá thư ngắn của Đức Thánh Cha

Kính gửi Đức Hồng Y Arthur Roche
Bộ trưởng Bộ Phụng vụ và Kỷ luật các Bí tích


Tôi gửi lời chào thân ái đến Ngài và tất cả những người quy tụ tại Tu viện Mount Angel ở Oregon khi anh chị em đang thảo luận về chủ đề quan trọng về việc đào tạo phụng vụ cho dân Chúa.

Trong Tông thư Desiderio Desideravi, mô tả vẻ đẹp của chiều sâu thần học và tâm linh của phụng vụ, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh sự cần thiết phải đào tạo liên tục và chu đáo cho cả giáo sĩ và giáo dân để làm sống lại đời sống phụng vụ của Giáo hội hoàn vũ (xem số 38). Sau đó, ngài nhắc nhở chúng ta rằng kiểu đào tạo này “không phải là chuyên môn hóa cho một vài chuyên gia, mà là một khuynh hướng nội tâm của toàn thể dân Chúa” (Bài phát biểu trước các thành viên tham dự Phiên họp toàn thể của Bộ Phụng vụ và Kỷ luật các Bí tích, ngày 8 tháng 2 năm 2024). Vì vậy, tôi khuyến khích anh chị em tìm hiểu những con đường cụ thể để đào tạo phụng vụ ở mọi cấp độ trong Thân Thể Chúa Kitô. Đồng thời, chúng ta “không được loại trừ ưu tiên trong việc đào tạo những người, nhờ Bí tích Truyền chức thánh, được kêu gọi trở thành những người hướng dẫn về các mầu nhiệm, nghĩa là nắm tay các tín hữu và đồng hành cùng họ trong sự hiểu biết về các mầu nhiệm thánh” (ibid.).

Những cơ hội thực tiễn đầu tiên cho việc đào tạo phụng vụ xuất hiện trong việc thực hành thường xuyên của chúng ta là quy tụ mỗi Chúa nhật để cử hành Thánh Thể. Những buổi cử hành này gắn liền với nhịp điệu hàng năm của năm phụng vụ, với Mầu nhiệm Phục Sinh là trung tâm. Vì lý do này, điều thiết yếu là chúng cũng phải mang tính đào tạo sâu sắc, thúc đẩy sự hiểu biết ngày càng sâu sắc hơn về nghệ thuật cử hành phụng vụ, được thể hiện không chỉ bởi người chủ tế phụng vụ mà còn bởi toàn thể cộng đoàn (xem Desiderio Desideravi, số 54). Bằng cách này, thông qua giáo dục đúng đắn và sự thờ phượng tôn kính, người Công Giáo sẽ được đào tạo cả về phụng vụ và bởi phụng vụ (xem ibid., số 34).

Hơn nữa, để thúc đẩy việc cử hành các mầu nhiệm thánh một cách trang nghiêm, chúng ta phải nhấn mạnh sự cần thiết phải trung thành với các văn bản và hướng dẫn đã được phê chuẩn. Trong các bài giáo lý gần đây của tôi về Hiến chương về Phụng vụ Thánh, Sacrosanctum Concilium, tôi đã lưu ý đến sự tôn trọng mà tất cả những người được kêu gọi chuẩn bị việc cử hành các mầu nhiệm thần linh, và đặc biệt là các linh mục, phải thể hiện đối với các nghi thức do Đức Thánh Giáo hoàng Phaolô VI và Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành. Điều tối quan trọng là sự tôn trọng này “xuất phát từ thái độ cởi mở và tin tưởng vào Thiên Chúa từ bên trong, thể hiện lòng khiêm nhường trước sự vĩ đại của Người và lòng trung thành chân thành với sự hiệp thông Giáo hội” (Giáo lý, ngày 27 tháng 5 năm 2026).

Với những tình cảm này, tôi phó thác những suy tư của anh chị em cho Đức Mẹ Maria, Ngai Tòa Khôn Ngoan, và tôi vui lòng ban Phép lành Tông đồ của tôi cho anh chị em và tất cả những người hiện diện trong buổi nhóm họp này như một lời hứa về sự khôn ngoan và bình an trong Chúa.

Từ Vatican, ngày 29 tháng 6 năm 2026

Leo XIV Giáo Hoàng
 
Lời thách thức của Đức Leo đối với một thời đại đầy sợ hãi: ‘Không phải là một thế giới để bảo vệ, mà là để đón nhận’
Vũ Văn An
15:18 15/08/2026

Đức Giáo Hoàng Leo XIV (ở giữa) ra hiệu trong Thánh lễ được cử hành bên lề Hội nghị Giới trẻ Phanxicô GO! tại Assisi, Ý, từ ngày 3-6 tháng 8 năm 2026. (Ảnh: Facebook/Ordo Fratrum Minorum/Vatican Media)


Tại một cuộc gặp gỡ giới trẻ ở Assisi, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã thách thức những người trẻ châu Âu từ bỏ chủ nghĩa bộ lạc và sự do dự do sợ hãi gây ra, kêu gọi họ đón nhận thế giới thông qua sự kết nối chân thành giữa con người và những lựa chọn cuộc sống can đảm, dứt khoát.

Cha Antonio Spadaro SJ, trong mục Global Catholic của hãnf tin UCANews, ngày 14 tháng 8 năm 2026, cho hay: Vào Lễ Biến Hình, ngày 6 tháng 8, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã đứng trước hàng ngàn thanh niên châu Âu tụ họp tại Assisi trong “Hội nghị Giới trẻ Phanxicô Go!” và nói với giọng rõ ràng như tiếng chuông: “Không phải để bảo vệ thế giới, mà là để ôm lấy nó”.

Sự khác biệt giữa hai động từ đó gần như tuyệt đối. Bảo vệ hàm ý một ranh giới và do đó, một kẻ thù. Ôm lấy hàm ý rủi ro và do đó, tự do.

Gần đây, chúng ta đã trở nên khá thành thạo trong việc giả vờ bảo vệ xã hội, quốc gia, cộng đồng của mình.

Bản sắc—quốc gia, văn hóa, thậm chí cả tôn giáo—đã dần trở lại hình dung như một chiến hào: thứ mà người ta thừa hưởng và bảo vệ, hơn là thứ cần được thử thách bằng cách đối diện với những gì không giống nó.

“Giải phóng bản thân khỏi nền văn hóa quyền lực và phá bỏ những bức tường ngăn cách con người với nhau,” Đức Giáo Hoàng nói với đám đông, “không bao giờ là sự phản bội gia đình chúng ta”—phản bội thành phố của mình, hay truyền thống của mình.

Mà đúng hơn, đó là giải phóng họ “khỏi những kẻ thù được tạo ra từ nỗi sợ hãi hoặc sự ngu dốt.”

Động thái thứ hai của chuyến thăm liên quan đến thời gian. Một thanh niên trong đám đông thừa nhận sợ hãi những lựa chọn không thể đảo ngược.

Câu trả lời của Đức Leo XIV rất thẳng thắn: “Lòng can đảm để đưa ra một lựa chọn dứt khoát có thể là hành động mang tính cách mạng nhất trong tất cả.”

Ngài nói, trong nhiều thế kỷ, Giáo hội đã giáo dục con người về tính tạm thời – mọi thứ đều qua đi, chỉ có Chúa là vĩnh cửu – trong những xã hội mà số phận của mỗi người phần lớn đã được định đoạt.

Ngày nay, điều ngược lại mới đúng: “Một sự hiểu biết thường bị nhầm lẫn về tự do khiến chúng ta tin rằng không có gì trong cuộc sống là thực sự được định đoạt”, và ảo tưởng đó, ngài cảnh báo, “chỉ làm tăng thêm nỗi sợ hãi của chúng ta và khiến chúng ta dễ lạc lối hơn”.

Trải nghiệm, các mối quan hệ và sự tiêu thụ nhân lên vô tận, trong khi các mối quan hệ dần trở thành sự lợi dụng lẫn nhau.

Tám trăm năm trước, trên cùng một vùng đồng bằng đó, hàng trăm tu sĩ đã tụ họp trong im lặng.

Đức Giáo Hoàng trích dẫn biên niên sử cổ: “Ở đây bốn mươi người, ở đó một trăm người và ở đó tám mươi người cùng nhau, tất cả đều bận rộn nói về Chúa, cầu nguyện, khóc lóc và thực hành bác ái, cư xử trong sự im lặng tuyệt vời… đến nỗi không một tiếng ồn ào nào được nghe thấy ở đó.”

Ngài nói rằng sự im lặng đó “tương phản rõ rệt với chiến tranh, với bạo lực, ồn ào và sự tàn ác của nó”—và đó chính là điều mà thời đại bị màn hình chiếm giữ đã đánh mất: có những con người thực sự, không phải nhân tạo ở gần bên.

Tiêu đề của cuộc gặp gỡ là một mệnh lệnh bằng tiếng Anh mang hương vị của cả tương lai và hy vọng.

“Tiêu đề của cuộc gặp gỡ của các bạn, Hãy đi!, là một sứ mệnh,” Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói. “Một sự phái đi trên những con đường mà chúng ta không có bản đồ, bởi vì chúng được mở ra bằng cách lắng nghe trái tim.” Hãy đi—hay, như chính Đức Giáo Hoàng đã nói, chúng ta hãy đi.
 
Chưa đến 7% người Công Giáo Đức tham dự Thánh lễ hàng tuần.
Đặng Tự Do
15:18 15/08/2026


Theo số liệu mới nhất do các giám mục nước này công bố, chưa đến bảy phần trăm người Công Giáo ở Đức tham dự Thánh lễ hàng tuần.

Một nghiên cứu toàn diện về đời sống của Giáo Hội Công Giáo tại Đức đã làm sáng tỏ thêm về tình trạng thực tế của đức tin tại quốc gia này. Trong những năm gần đây, các bản tin về Giáo hội tại Đức hầu như đánh đồng Tiến Trình Công Nghị với sự suy giảm sức sống của Giáo Hội Công Giáo đi kèm. Những số liệu mới nhất tiếp tục xu hướng đó.

Trong hầu hết mọi lĩnh vực, Giáo hội tại Đức đều chịu ảnh hưởng. "Chúng ta có ít tín hữu hơn, ít người tham dự lễ thờ phượng hơn, ít nhân viên mục vụ hơn, và hoàn cảnh tài chính cũng thay đổi", Giám mục Heiner Wilmer, chủ tịch Hội đồng Giám mục Đức, gọi tắt là DBK, viết.

Nhưng ngài cũng lên án Giáo hội ở Đức trước ý kiến cho rằng đó chỉ là "câu chuyện về sự suy thoái", vì các số liệu "thể hiện sự tận tâm, đáng tin cậy và trách nhiệm lớn lao", ngài nói.

Thực tế phũ phàng nằm ở những số liệu thống kê được nêu trong báo cáo thường niên phiên bản mới nhất, mô tả chi tiết tình hình sức khỏe của Giáo hội tính đến năm 2025.

Số lượng người Công Giáo nhiều hơn người Tin lành gần hai triệu người, với dân số Công Giáo tập trung nhiều nhất ở Bavaria và Saarland. Có khoảng 19,2 triệu người Công Giáo và gần 17,4 triệu người Tin lành, nhưng đó là nơi mà những tin tức tích cực bắt đầu giảm dần.

Trong số hơn 19 triệu người Công Giáo đó, chỉ một tỷ lệ rất nhỏ thực sự tham dự Thánh lễ Chúa Nhật. Chỉ có 1,3 triệu người – tương đương khoảng 6,8% – được hỏi là tham dự Thánh lễ Chúa Nhật hàng tuần vào năm 2025.

Tín ngưỡng Công Giáo tại Đức đang tiếp tục xu hướng trì trệ đã diễn ra trong nhiều năm: cách đây hơn một thập niên, vào năm 2014, vẫn có khoảng 10,9% người Công Giáo tham dự Thánh lễ hàng tuần.

Số liệu cũng không mấy khả quan đối với sự phát triển của Giáo hội thông qua việc cải đạo hoặc rửa tội. Năm 2025, chỉ có hơn 109.000 người được tiếp nhận vào Giáo hội qua phép rửa tội, trong đó gần 2.300 người từ 14 tuổi trở lên.

Tuy nhiên, trái ngược hoàn toàn với 109.000 người được rửa tội là số người rời bỏ Giáo hội: hoặc chính thức từ bỏ Giáo hội hoặc đơn giản là qua đời.

Trên thực tế, số lượng đám tang gần gấp đôi số lượng lễ rửa tội. Năm 2025, có hơn 203.000 đám tang so với 109.000 lễ rửa tội. Sự chênh lệch này cũng không phải là điều mới mẻ, như những năm gần đây đã chứng minh:

2023: 131.245 lễ rửa tội so với 226.179 lễ tang.

Năm 2024: 116.274 lễ rửa tội so với 213.046 lễ tang.

Con số này cũng cần được cộng thêm vào số lượng lớn người rời bỏ Giáo hội. Khoảng 307.000 người đã rời bỏ Giáo hội ở Đức năm ngoái.

Con số 307.000 này chỉ càng làm nổi bật sự hỗn loạn nội bộ vốn có trong Giáo hội ở Đức, và thực tế còn thấp hơn so với những năm trước. Hơn 320.000 người đã rời bỏ Giáo hội vào năm 2024, hơn 400.000 người rời bỏ vào năm 2023 và khoảng nửa triệu người rời bỏ vào năm 2022.

Tất nhiên, sự suy giảm này không chỉ giới hạn ở giáo dân Công Giáo mà còn diễn ra trong hàng giáo sĩ. Hiện nay, Đức có khoảng 9.000 giáo xứ đang hoạt động, nhưng số lượng linh mục phục vụ các giáo xứ này đang giảm nhanh chóng.

Theo số liệu mới nhất, hiện chỉ có 11.083 linh mục đang phục vụ trong cả nước. Trong số đó, gần 2.300 đến từ nước ngoài, điều này có nghĩa là cuộc khủng hoảng ơn gọi linh mục ở Đức còn tồi tệ hơn so với những gì ban đầu người ta tưởng.

Nhưng sự suy giảm ở đây đã diễn ra trong một thời gian dài. Năm 2020 có 12.565 linh mục, năm 2014 có khoảng 14.400 linh mục, và quay ngược lại một thập niên trước đó đến năm 1995, con số này là khoảng 18.600.

Cho đến nay, hàng giáo phẩm Đức vẫn chưa tìm ra giải pháp để đảo ngược sự suy giảm. Tuy nhiên, DBK dường như cam kết tiếp tục tập trung vào tính đồng nghị và các chủ đề được đề xuất trong Tiến Trình Công Nghị quốc gia.

"Giáo Hội không chỉ hiện diện ở những nơi cử hành Thánh Lễ," Giám mục Wilmer khẳng định. "Giáo Hội còn hiện diện ở những nơi mọi người được đồng hành, được củng cố và được an ủi — nơi trách nhiệm xã hội được gánh vác, nơi văn hóa được thúc đẩy, đối thoại được tạo điều kiện và hy vọng được chia sẻ."

Ngài nói thêm: "Tính đồng nghị không phải chủ yếu là một thủ tục, mà là một lối sống tâm linh. Đó là việc lắng nghe lẫn nhau, chia sẻ trách nhiệm và định hình Giáo hội theo cách phục vụ Tin Mừng và con người. Hy vọng trở thành hiện thực khi Giáo hội không tự khép kín mà cùng nhau tiến bước."

Tiến Trình Công Nghị ở Đức đã bị nhiều giám mục chỉ trích rộng rãi, và nhiều lời cảnh báo từ Vatican đối với Tiến Trình Công Nghị đã bị phớt lờ.

Mới đây nhất, Tòa Thánh đã kiên quyết bác bỏ đề xuất của Hội đồng Đức tin Đức, gọi tắt là DBK về việc giáo dân giảng đạo – một đề xuất được đưa ra trong Tiến Trình Công Nghị – nhưng như tờ Catholic Herald đã đưa tin, lệnh cấm này đã bị công khai phớt lờ.

Nếu xu hướng hiện tại không được đảo ngược, các tín hữu Công Giáo Đức sẽ ngày càng phải đối mặt với một Giáo hội có dân số già hóa và nguồn lực ngày càng giảm.


Source:Catholic Herald
 
Liệu bạn có thể bị khai trừ khỏi giáo hội vì đăng một bài trên mạng xã hội hay không? Một luật sư giáo luật giải đáp.
Đặng Tự Do
15:19 15/08/2026


Giữa làn sóng phản ứng dữ dội trên mạng sau khi SSPX quay trở lại ly khai, luật sư giáo luật hàng đầu, Cha Cédric Burgun, đã phác thảo phạm vi quyền tự do ngôn luận của các tín hữu trên internet.

Một lượt chia sẻ, một bình luận, một sự ủng hộ công khai cho một vấn đề gây tranh cãi: Trên mạng xã hội, người Công Giáo ngày nay có thể thể hiện lập trường chỉ bằng một cú nhấp chuột. Một thế hệ trước, việc bày tỏ ý kiến công khai đòi hỏi phải có phương tiện trung gian chính thức — dù là nhà xuất bản, nhà báo hay giám mục — trừ khi người đó có đủ can đảm để trực tiếp nói chuyện với đám đông. Luật Giáo hội được viết cho thế giới cũ hơn, chậm rãi hơn đó. Bộ luật năm 1983, vẫn là văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của Giáo hội, được soạn thảo hàng thập niên trước khi mạng xã hội xuất hiện và chưa bao giờ được sửa đổi để phù hợp với nó.

Tuy nhiên, những hệ lụy thực tế của sự im lặng pháp lý này không chỉ đơn thuần là lý thuyết. Chúng trở nên đặc biệt quan trọng khi Huynh Đoàn Thánh Piô X, gọi tắt là SSPX quay trở lại với điều mà Vatican coi là sự ly giáo công khai, gây ra những phản ứng trên mạng từ nhiều phía trong lĩnh vực phụng vụ và tư tưởng.

Bất chấp lời khẩn cầu cá nhân từ Đức Giáo Hoàng Lêô XIV và không có sự chấp thuận của Rôma, SSPX đã phong chức giám mục cho bốn linh mục của mình vào ngày 1 tháng 7 năm 2026, một hành động dẫn đến việc bị vạ tuyệt thông tự động theo luật giáo hội. Sắc lệnh của Vatican ngày hôm sau không chỉ tuyên bố rằng các giám mục liên quan trực tiếp bị vạ tuyệt thông mà còn nói rằng các tín hữu giáo dân "chính thức gia nhập" SSPX cũng bị coi là bị vạ tuyệt thông, đồng thời cảnh báo các giáo sĩ và các tín hữu khác không nên "gia nhập" giáo phái ly khai này.

Đó chính xác là ranh giới mà một số người ủng hộ có thể thấy mình đang thử thách trên mạng. Liệu một bài đăng hay một "bài chia sẻ lại" có thể bị coi là ly khai và dẫn đến việc tự khai trừ khỏi giáo hội không? Luật giáo hội có vạch ra ranh giới giữa tự do ngôn luận chính đáng và một hành vi đủ nghiêm trọng để phá vỡ sự hiệp thông với Rôma không?

Theo Cha Cédric Burgun, trưởng khoa Luật Giáo hội tại Viện Công Giáo Paris, đúng là không có khuôn khổ giáo luật nào cho mạng xã hội, nhưng điều này không khiến các tín hữu rơi vào tình trạng hoàn toàn thiếu luật pháp — mà chỉ yêu cầu họ áp dụng các nguyên tắc lâu đời vào một không gian công cộng đã mang những chiều kích mới.

Theo ngài, điều quan trọng về mặt giáo luật là tính chất công khai của tuyên bố, chứ không phải phương tiện truyền tải nó. "Bất kỳ hành vi ly khai hoặc dị giáo nào được thực hiện thông qua lời nói đều là một tuyên bố công khai theo cách này hay cách khác," ngài nói, "cho dù nó được viết trên báo, trên truyền hình hay trên internet."

Nói cách khác, một cơ quan truyền thông trực tuyến có giá trị pháp lý tương đương với một tuyên bố trên truyền hình hoặc một thông cáo báo chí. Nếu nội dung của nó mang tính chất ly khai một cách khách quan, thì phương tiện sử dụng không làm thay đổi cách luật pháp diễn giải nó. Điều đã thay đổi, trên hết, là số lượng người hiện nay chịu sự điều chỉnh của luật này.

Bốn mươi năm trước, trước khi một tuyên bố được công bố rộng rãi, nó thường phải trải qua một số hình thức kiểm duyệt của các tổ chức, chẳng hạn như được đăng trên báo hoặc xuất hiện trên chương trình truyền hình. "Ngày nay, với mạng xã hội, rõ ràng là mọi người đều có nền tảng riêng của mình," Cha Burgun nói.

Vậy nếu một bình luận công khai có thể bị coi là hành vi ly khai hoặc dị giáo, thì liệu có thể dẫn đến việc một người bị khai trừ khỏi giáo hội ngay lập tức chỉ vì một điều đơn giản như đăng một bài trên mạng xã hội hay không?

Vấn đề mang tính quy tắc so với Tự động

Mặc dù những tuyên bố trực tuyến mang tính chất ly khai trắng trợn không phải là vô hại về mặt giáo luật, nhưng chúng cũng không tự động cấu thành tội danh bị khai trừ khỏi giáo hội, vì hình phạt này chỉ dành cho những trường hợp cụ thể.

Luật Giáo hội định nghĩa "ly giáo" là sự đứt đoạn khách quan với quyền cai quản của Đức Giáo Hoàng hoặc với các thành viên của Giáo hội trực thuộc ngài. Cha Burgun lưu ý rằng sự đứt đoạn với quyền lực của Giáo hội này không chỉ giới hạn ở Đức Giáo Hoàng mà còn mở rộng ra ngoài Đức Giáo Hoàng đến các giám mục và các nhà lãnh đạo giáo hội khác được giao quyền cai quản.

Việc công khai bảo vệ một nhóm hoặc một lý tưởng, tự bản thân nó, không phải là hành vi ly giáo. "Việc bảo vệ chỉ trở nên có vấn đề về mặt giáo luật nếu về bản chất, nó là một hành vi ly giáo," Cha Burgun nói — ví dụ, một tuyên bố trực tuyến bác bỏ một cách khách quan quyền uy của Đức Giáo Hoàng.

Tuy nhiên, không giống như việc vạ tuyệt thông tiền kết hay tự động (latae sententiae) áp dụng cho một giám mục tấn phong một giám mục khác mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng, định nghĩa về ly giáo và dị giáo trong luật giáo hội không kèm theo hình phạt tự động. Ngài giải thích: "Để có hình phạt cho ly giáo hoặc dị giáo, cần phải có một thủ tục xác định chúng" trước khi có bất kỳ hình phạt vạ tuyệt thông nào được áp dụng.

Sự khác biệt đã thể hiện rõ ràng cả sau các lễ tấn phong bất hợp pháp năm 1988 của người sáng lập SSPX, Đức Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre, và các lễ tấn phong của SSPX mùa hè năm nay: Trong cả hai trường hợp, các giám mục đều tự động bị vạ tuyệt thông theo điều luật về các lễ tấn phong giám mục bất hợp pháp, nhưng bất kỳ hình phạt nào đối với những người ủng hộ đều cần được đánh giá riêng theo luật ly giáo của Giáo hội.

Cha Burgun lưu ý rằng ngay cả bước thứ hai đó cũng đi kèm với một điều kiện: Tòa Thánh đã nói rõ rằng hình phạt dành cho giáo dân "không thể được áp dụng tự động, mà phải được xem xét từng trường hợp cụ thể." Ngài giải thích rằng việc gia nhập chính thức thường đòi hỏi một số cam kết về mặt pháp lý —, chẳng hạn như tư cách thành viên bằng văn bản hoặc bằng lời nói trong SSPX, chỉ tham dự các nghi lễ của tổ chức này, hoặc từ chối lãnh nhận các bí tích khi tham dự Thánh lễ được cử hành trong Giáo Hội Công Giáo vì những lý do liên quan đến việc gia nhập SSPX, cùng với các hành vi tương tự khác.

Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho những gì mọi người đăng tải trực tuyến. Một bình luận vượt ra ngoài việc bày tỏ sự cảm thông — chẳng hạn như kêu gọi người khác tham dự Thánh lễ của SSPX thay vì Thánh lễ được cử hành theo nghi thức thông thường — có thể được xem xét trong đánh giá cá nhân đó, bởi vì nó khuyến khích hành vi mà Giáo hội cho là có vấn đề.

Theo đó, ngay cả một bài đăng có hàm ý ly giáo cũng không tự động dẫn đến việc bị vạ tuyệt thông. Bởi vì ly giáo và dị giáo không phải là những tội danh tự động bị trừng phạt, nên bất kỳ hình phạt nào cũng đòi hỏi một quy trình giáo luật để xác định rằng các điều kiện pháp lý đã được đáp ứng, bất kể tuyên bố đó xuất hiện trực tuyến, trên báo in hay ở nơi khác.

Cha Burgun cho biết, Điều 1329 của Giáo luật, quy định mở rộng trách nhiệm pháp lý cho những kẻ đồng phạm trong những trường hợp hạn chế, khó có thể áp dụng cho những người ủng hộ SSPX trực tuyến, vì lễ tấn phong giám mục không phụ thuộc vào sự tham gia của khán giả trực tuyến.

Cha Burgun nhấn mạnh rằng luật sư giáo luật đã cẩn thận nêu rõ các nguyên tắc giáo luật vẫn được áp dụng như nhau bất kể khuynh hướng thần học hay phụng vụ nào. Về nguyên tắc, những người Công Giáo công khai bác bỏ quyền uy của Giáo hội từ quan điểm cấp tiến cũng sẽ phải tuân theo cùng một khuôn khổ pháp lý.

Tuy nhiên, địa vị của tác giả lại làm thay đổi cách tính toán. Cha Burgun cho biết, các linh mục và tu sĩ có nghĩa vụ cao hơn trong việc duy trì sự hiệp thông của Giáo hội và nêu gương, do địa vị trong cuộc sống và sự đào tạo của họ — điều đó có nghĩa là những tuyên bố trực tuyến của một giáo sĩ phải tuân thủ một tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn so với một giáo dân. Ngài lưu ý rằng, giáo dân "dễ được tha thứ hơn" khi không biết luật so với giáo sĩ.

Tự do trong sự hiệp thông

Điều này tất yếu đặt ra câu hỏi về quyền tự do ngôn luận của chính các tín hữu. Cha Burgun đã đề cập đến Điều 205 của Giáo luật, định nghĩa sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội bao gồm sự hiệp thông trong việc quản trị cũng như trong đức tin, nhưng tiếp theo đó, trong Điều 212, là quyền — "thực ra, là bổn phận" — của các tín hữu được bày tỏ quan điểm của mình về các vấn đề Giáo hội "với lòng kính trọng đối với các mục tử của họ".

Ngài tuyên bố: "Giáo hội không phải là một nền dân chủ nơi mọi người được tự do nói những gì mình muốn, bất cứ khi nào mình muốn." Ngài thừa nhận rằng có "một mức độ tự do ngôn luận nhất định" trong Giáo hội — nhưng đó là sự tự do không bao giờ đi chệch khỏi lợi ích chung và mối quan tâm đến sự hiệp nhất.

Bất kể những điểm khác biệt về mặt pháp lý cuối cùng có thể được cho phép, Cha Burgun cho rằng cuộc khủng hoảng thực sự đang diễn ra trên mạng xã hội Công Giáo hiện nay có thể ít liên quan đến giáo luật hơn là liên quan đến tâm linh. Về vấn đề này, ngài đã trích dẫn câu châm ngôn được tường trình của Thánh Augustinô: in necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus caritas — "trong những điều cốt yếu, hãy hiệp nhất; trong những điều nghi ngờ, hãy tự do; trong mọi điều, hãy bác ái."

Ngài nói: "Nhiều phản ứng thiếu lòng bác ái và sự hiệp nhất đối với một cộng đồng giáo hội vốn đã bị tổn thương quá nhiều qua nhiều thế kỷ."

Ngài nói thêm: "Mạng xã hội không nên làm trầm trọng thêm những vết thương khó lành."


Source:National Catholic Register
 
VietCatholic TV
Putin khiêu khích Nhật Bản. Cảng lớn nhất Ust-Luga chìm trong biển lửa. TT Trump: Hormuz là lãnh thổ Mỹ
VietCatholic Media
04:09 15/08/2026


1. Tổng thống Trump tuyên bố Mỹ sẽ duy trì lệnh phong tỏa, trong khi Iran khẳng định sẽ tiếp tục đóng cửa eo biển Hormuz cho đến khi các yêu cầu được đáp ứng.

Tổng thống Donald Trump tuyên bố rằng Mỹ sẽ duy trì lệnh phong tỏa các cảng của Iran, trong khi Iran nhắc lại rằng tuyến đường thủy này sẽ vẫn đóng cửa cho đến khi các yêu cầu của họ được đáp ứng.

"Mỹ hoàn toàn kiểm soát eo biển Hormuz. Tôi nghĩ chúng ta sẽ giữ vững quyền kiểm soát đó!" Tổng thống Trump viết trên nền tảng Truth Social của mình. "Mọi người đều gọi cuộc phong tỏa hải quân của chúng ta là ‘BỨC TƯỜNG THÉP’, và Iran không thể làm gì được."

"Họ không có Hải quân, không có Không quân, những binh lính còn lại không được trả lương, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC bị tàn phá và đang tháo chạy, và ‘Lãnh đạo’ của họ thì bấp bênh, nói thẳng ra là vậy! Họ không có tiền - Đất nước của họ đã ‘bị tàn phá’ rồi," Tổng thống Trump viết.

"Tất cả những gì họ có là TIN GIẢ và LẠM PHÁT 300%, và ngày càng tồi tệ hơn! Iran chỉ biết nói suông mà không hành động, không còn là kẻ bắt nạt ở Trung Đông nữa", Tổng thống Trump viết. "Cảm ơn Allah!"

Cơ quan quản lý eo biển vùng Vịnh Ba Tư của Iran – được Cộng hòa Hồi giáo thành lập vào tháng 5 để kiểm soát hoạt động vận chuyển hàng hải qua eo biển Hormuz – đã viết : "Những tuyên bố và bài đăng lặp đi lặp lại của các quan chức Mỹ rằng eo biển Hormuz không còn bị phong tỏa không làm thay đổi thực tế: eo biển Hormuz vẫn bị phong tỏa và sẽ không được mở lại cho đến khi các điều kiện của Iran được chấp nhận."

Gần đây, Tổng thống Trump liên tục chỉ trích các nhà lãnh đạo Iran, sau khi gọi họ là những người ôn hòa hơn nhiều so với các nhà lãnh đạo tiền nhiệm chưa đầy hai tháng trước, khi ông ký một bản ghi nhớ với Tehran nhằm chấm dứt vĩnh viễn cuộc chiến giữa hai nước và mở lại eo biển.

Tổng thống Mỹ được tường trình đang nghiêng về hướng tuyên bố chiến thắng trước Iran mà không cần đạt được thỏa thuận nào về chương trình hạt nhân của Iran, nhằm mục đích rút lui khỏi vấn đề này.

Nhưng việc rút quân trong khi vẫn duy trì lệnh phong tỏa có thể sẽ khiến giá khí đốt toàn cầu tăng cao, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến các cuộc tấn công bổ sung của Iran vào các nước láng giềng, vốn đã gây bất ổn trong khu vực.

Văn phòng Bộ trưởng Nội vụ Pakistan cho biết ông đã có mặt tại Iran hôm thứ Tư để thảo luận về an ninh khu vực, ổn định và các diễn biến khác.

"Ông ấy đang thảo luận về quan hệ song phương, an ninh, an ninh và ổn định khu vực, cũng như sự hợp tác mang tính xây dựng giữa các bên trong khu vực và các diễn biến khu vực", phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Pakistan, Tahir Andrabi, cho biết. Chính phủ Pakistan đang làm trung gian hòa giải để chấm dứt giao tranh.

Hãng thông tấn Anadolu của Thổ Nhĩ Kỳ, dẫn nguồn tin từ chính phủ Pakistan, đưa tin rằng Tehran và Washington đã đồng ý gia hạn lệnh ngừng bắn 60 ngày theo thỏa thuận tạm thời được ký kết hồi tháng 6, nhưng Iran đã phủ nhận điều này.

Một nguồn tin cao cấp của Iran nói với Reuters rằng không có cuộc thảo luận nào giữa Iran và Hoa Kỳ về việc gia hạn lệnh ngừng bắn.

"Không có chuyện bàn đến việc gia hạn vì, từ quan điểm của Iran, không có giai đoạn nào bắt đầu và do đó không có gì để gia hạn. Hoa Kỳ đã vi phạm thỏa thuận tạm thời 48 giờ sau khi đạt được và rút khỏi thỏa thuận vài ngày sau đó", nguồn tin cho biết.

"Một trong những vấn đề đang được thảo luận thông qua các nhà trung gian là việc Mỹ quay trở lại thỏa thuận tạm thời và xác định khung thời gian để thực hiện các cam kết. Hoàn toàn không có tiến triển nào về vấn đề này", nguồn tin cho biết thêm.

Cũng trong ngày thứ Tư, 26 quốc gia, bao gồm Pháp, Anh và Canada, đã lên án việc chính quyền Iran sử dụng án tử hình, tuyên bố trong một thông cáo chung rằng Cộng hòa Hồi giáo đang hành quyết những người biểu tình để "dập tắt sự bất đồng chính kiến".

Các quốc gia này, cùng với nhà ngoại giao hàng đầu của Liên minh Âu Châu, tuyên bố họ "lên án mạnh mẽ nhất việc Iran tiếp tục hành quyết người biểu tình và sử dụng án tử hình".

"Việc sử dụng án tử hình để bịt miệng những người bất đồng chính kiến, đe dọa cộng đồng và trừng phạt những cá nhân thực hiện quyền con người của họ là điều không bao giờ có thể biện minh được", họ nói.

Sau 26 quốc gia ban đầu và nhà lãnh đạo chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Âu Châu, Kaja Kallas, "các quốc gia khác đã tham gia tuyên bố này", nâng tổng số quốc gia ký kết lên 32, Bộ Ngoại giao Pháp cho biết với hãng tin AFP.

Ngoại trưởng Iran bác bỏ những lời chỉ trích, nói rằng: "Các quốc gia như Pháp nên ngừng lên giọng dạy đời về ‘nhân quyền’ và luật pháp quốc tế. Sự đạo đức giả này quá trắng trợn và đáng xấu hổ."

Abbas Araghchi cho biết: "Việc các ông ủng hộ tội ác diệt chủng của Israel ở Gaza - và hành động gây hấn chống lại Iran - đã phá hủy bất kỳ vị thế đạo đức cao cả nào mà các ông từng tưởng mình có được", đồng thời đưa ra lời cáo buộc nhắm vào Israel, điều mà nhà nước Do Thái kịch liệt bác bỏ.

Theo Liên Hiệp Quốc, kể từ ngày 19 tháng 3, ít nhất 56 người đã bị hành quyết ở Iran vì các tội danh liên quan đến an ninh quốc gia, trong đó có 27 người trong các vụ án liên quan đến các cuộc biểu tình.

Ông Turk cho biết, hơn 100 người khác đang có nguy cơ bị tử hình với những tội danh tương tự. Liên Hiệp Quốc và các nhóm nhân quyền đã cảnh báo về việc thiếu các phiên tòa công bằng và về việc ép buộc nhận tội.

Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, năm ngoái Iran đã hành quyết hơn 2.150 người, trở thành quốc gia hành quyết nhiều thứ hai thế giới sau Trung Quốc và đứng đầu về số lượng người chết tính theo đầu người.

Số vụ bắt giữ và hành quyết đã gia tăng đáng kể ở nước này kể từ khi Mỹ và Israel tấn công Iran vào ngày 28 tháng 2 với mục tiêu đã nêu là chấm dứt chương trình hạt nhân và hỏa tiễn đạn đạo của nước này và tạo điều kiện cho sự sụp đổ của chế độ.

Cuộc chiến nổ ra sau khi, vào tháng Giêng, lực lượng chính phủ Iran nổ súng vào người biểu tình trong làn sóng biểu tình quy mô lớn, khiến hàng ngàn hoặc hàng chục ngàn người thiệt mạng trong hai ngày. Các vụ bắt giữ và hành quyết gần đây được tường trình có liên quan đến cả cuộc chiến và các cuộc biểu tình chống chế độ đó.

[Times Of Israel: Trump says US to maintain blockade, as Iran vows to keep Hormuz closed until demands met]

2. Putin khiến Nhật Bản phẫn nộ với chuyến thăm hòn đảo tranh chấp.

Giới chức Tokyo đã chỉ trích mạnh mẽ Mạc Tư Khoa sau chuyến thăm của Putin tới hòn đảo Iturup đang tranh chấp hôm thứ Năm.

Hòn đảo này, còn được biết đến với tên tiếng Nhật là Etorofu, nằm ở phía đông bắc Nhật Bản — cách bờ biển Hokkaido khoảng 100 km — trong quần đảo Kuril và là chủ quyền của cả Mạc Tư Khoa lẫn Tokyo. Giống như các hòn đảo tranh chấp khác trong quần đảo này, chúng được Nga quản lý.

Hôm thứ Năm, Ngoại trưởng Nhật Bản Toshimitsu Motegi nói: "Hôm nay, tôi được thông báo rằng Tổng thống Nga Putin đã đến thăm đảo Iturup. Các vùng lãnh thổ phía Bắc, bao gồm đảo Iturup, về bản chất là lãnh thổ của Nhật Bản cả về lịch sử và theo luật quốc tế, và Chính phủ Nhật Bản kịch liệt phản đối chuyến thăm này."

Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi gọi chuyến thăm này là "không phù hợp với lập trường nhất quán của Nhật Bản về các vùng lãnh thổ phía Bắc" và "hoàn toàn không thể chấp nhận được".

Takaichi nói: "Ngay cả trong bối cảnh quan hệ Nhật Bản-Nga đang căng thẳng sau cuộc xâm lược Ukraine của Nga, Nhật Bản đã nỗ lực hết sức có thể, nhưng chuyến thăm này chỉ có thể nói là đã làm gia tăng thêm tâm lý chống Nga trong nội bộ Nhật Bản và khiến việc phục hồi quan hệ trong trung và dài hạn trở nên khó khăn hơn. Tôi hy vọng phía Nga sẽ nhìn nhận vấn đề này một cách nghiêm chỉnh."

Tuy nhiên, Mạc Tư Khoa tuyên bố chuỗi đảo này đã trở thành một phần lãnh thổ của Nga sau khi Nhật Bản thất bại trong Thế chiến II.

Điện Cẩm Linh cũng vận hành một căn cứ quân sự có vị trí chiến lược quan trọng trên đảo Iturup. Năm 2025, Nhật Bản đã phản đối cuộc tập trận bắn đạn thật của Nga trong vùng biển khu vực, bao gồm cả vùng lãnh hải của Nhật Bản, và cho rằng việc "tăng cường quân sự" của Điện Cẩm Linh trong khu vực là "không thể chấp nhận được".

Theo truyền thông nhà nước Nga, Putin đã đến thăm một trang trại nuôi cá trên đảo. Bản tin cho biết ông được thông báo rằng vùng biển quần đảo Kuril hiện đang có rất nhiều cá ngừ nặng tới 300 kg - và ông cũng được chiêu đãi trứng cá muối.

[Politico: Putin enrages Japan with trip to disputed island]

3. Tổng thống Trump tuyên bố sẽ công nhận eo biển Hormuz là "lãnh thổ của Hoa Kỳ".

Trong một cử chỉ giật gân, Tổng thống Trump cho biết ông sẽ tuyên bố eo biển Hormuz là lãnh thổ của Mỹ trong một cuộc mít tinh ở New York, trong bối cảnh Iran và Mỹ đang tranh chấp quyền kiểm soát tuyến đường thủy quan trọng này.

"Sau khi chúng ta đánh bại Iran, quốc gia đang bị đánh bại rất nặng nề, chẳng bao lâu nữa tôi sẽ tuyên bố eo biển Hormuz là lãnh thổ của Hoa Kỳ," tổng thống nói.

Kể từ khi chiến tranh Mỹ-Iran bắt đầu, Iran đã tìm cách kiểm soát eo biển này. Nước này yêu cầu các tàu phải xin phép và đi sát bờ biển Iran khi đi qua tuyến đường thủy này, khiến lưu lượng vận tải biển giảm mạnh. Iran cũng đã cân nhắc việc thu phí. Các quan chức chính quyền Trump đã bác bỏ ý tưởng thu phí của Iran, mặc dù Tổng thống Trump đã đề cập đến việc Mỹ thu phí.

[CBSNews: Trump says he'll declare Strait of Hormuz a "territory of the United States"]

4. Iran bác bỏ tuyên bố của Tổng thống Trump về việc Mỹ kiểm soát eo biển Hormuz là dối trá.

Hôm thứ Năm, quân đội Iran đã bác bỏ những tuyên bố của Tổng thống Trump về việc kiểm soát eo biển Hormuz, cho rằng đây là những lời nói dối, và khẳng định tuyến đường thủy chiến lược này hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Iran.

"Những tuyên bố sai sự thật của Hoa Kỳ rằng các tàu thuyền đang đi qua eo biển Hormuz một cách bình thường... chỉ là những lời nói dối và bịa đặt," Ebrahim Zolfaghari, phát ngôn nhân của Bộ chỉ huy quân sự trung ương Iran, Khatam-al Anbiya, cho biết.

"Eo biển Hormuz, như trước đây, vẫn nằm dưới sự quản lý và kiểm soát hoàn toàn của Cộng hòa Hồi giáo Iran, và không một tàu thương mại hay tàu chở dầu nào, nếu không có sự cho phép và giám sát của quân đội Iran hùng mạnh, có thể và sẽ không bao giờ có khả năng đi qua eo biển này một cách an toàn", ông nói trong một video được truyền hình nhà nước phát sóng.

Tổng thống Trump tuyên bố một ngày trước đó rằng Mỹ "kiểm soát hoàn toàn eo biển Hormuz", và nói thêm, "Tôi nghĩ chúng ta sẽ giữ được quyền kiểm soát đó!"

Iran và Oman đã đàm phán để thiết lập một tuyến đường mới qua eo biển, nhưng các cuộc đàm phán vẫn chưa được hoàn tất. Tehran cho rằng ngay cả khi các cuộc đàm phán tìm ra một tuyến đường mới, điều đó cũng không tự động mở cửa tuyến đường thủy trừ khi Mỹ đáp ứng các yêu cầu của Iran.

[CBSNews: Iran rejects Trump claims of U.S. control over Hormuz as lies]

5. Cảng Ust-Luga của Nga bị tấn công, 2 nhà máy chế biến bị hư hại, Bộ Tổng tham mưu Ukraine cho biết.

Bộ Tổng tham mưu Ukraine cho biết, đêm 14 tháng 8, Ukraine đã tấn công cảng Ust-Luga ở tỉnh Leningrad của Nga, làm hư hại hai nhà máy chế biến và gây ra hỏa hoạn lớn gây ra khói bao trùm bầu trời thành phố St. Petersburg.

Ust-Luga là một trong những cảng lớn nhất của Nga trên Biển Baltic và là nơi có một nhà ga dầu đóng vai trò là trung tâm xuất khẩu dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ quan trọng. Nằm ở phía tây St. Petersburg, cách xa biên giới Ukraine, cảng này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra doanh thu cho ngân sách nhà nước.

Trước đó, Thống đốc vùng Alexander Drozdenko báo cáo rằng "cơ sở hạ tầng cảng" đã bị tấn công và một đám cháy đang bùng phát tại cảng trong bối cảnh cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa trên quy mô lớn vào khu vực này. Các quan chức tuyên bố rằng 51 máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã bị bắn hạ trên tỉnh Leningrad.

Trong bối cảnh Kyiv tăng cường các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Nga, cảng Ust-Luga đã liên tục trở thành mục tiêu tấn công trong những tháng gần đây. Quân đội Ukraine đã thực hiện một loạt các cuộc tấn công sâu vào cảng Ust-Luga trong tháng 3 và tháng 4 năm nay.

[Kyiv Independent: Russia's Ust-Luga port struck, 2 processing plants damaged, Ukraine's General Staff says]

6. Cố vấn của lãnh đạo tối cao Iran cho biết chiến lược tấn công mới có thể thay đổi "cán cân quyền lực".

Mohammad Mokhber, cố vấn của Lãnh tụ tối cao Iran Mojtaba Khamenei, cho biết "chiến lược dứt khoát" mới của giới lãnh đạo nhằm biến cuộc chiến thành xung đột tấn công nếu các điều kiện của Iran không được đáp ứng sẽ làm thay đổi căn bản cán cân quyền lực toàn cầu.

"Chiến lược dứt khoát của nhà lãnh đạo nhằm biến cuộc chiến thành một cuộc tấn công nếu các điều kiện của Iran không được đáp ứng chắc chắn sẽ làm thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới," Mokhber cho biết.

"Bằng cách chứng minh sự bất lực của Mỹ trong việc bảo vệ các đồng minh ở Vịnh Ba Tư, con đường bền vững nhất hướng tới một trật tự mới trong khu vực là thực hiện cơ chế an ninh kinh tế eo biển Hormuz, độc lập với sự bảo đảm quân sự của Washington," ông nói thêm.

[CBSNews: Adviser to Iran's supreme leader says new offensive strategy could change "equations of power"]

7. Moldova cung cấp tuyến hỏa xa huyết mạch cho xuất khẩu thực phẩm của Ukraine trong bối cảnh Nga làm tắc nghẽn thương mại Hắc Hải.

Hôm Thứ Sáu, 14 Tháng Tám, Thủ tướng Moldova Vasile Tofan nói rằng Moldova đã đồng ý vận chuyển 600.000 tấn lương thực Ukraine bằng hỏa xa trước cuối năm 2026.

Ukraine đã không thể xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp qua Hắc Hải trong vài tuần qua do các cuộc tấn công leo thang của Nga vào các hải cảng của nước này.

Xuất khẩu nông sản của Nga cũng đang bị ảnh hưởng bởi các cuộc tấn công của Ukraine, bao gồm cả chiến dịch ngày 12 tháng 8 nhằm vào cảng Novorossiysk, làm dấy lên lo ngại về một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu tương tự như năm 2022.

Ông Tofan ca ngợi thỏa thuận này là "những làn đường đoàn kết tốt đẹp nhất", giải thích việc sử dụng hỏa xa của Moldova là "giúp Ukraine tiếp cận các thị trường khu vực và giữ cho các tuyến thương mại quan trọng luôn thông suốt".

Ngoại trưởng Ukraine Andrii Sybiha cảm ơn Moldova về quyết định này và "tình đoàn kết thực sự với Ukraine".

"Khi Nga cố tình tấn công vào các cảng và tuyến đường thương mại của Ukraine, các tuyến đường xuất khẩu thay thế là rất quan trọng đối với khả năng phục hồi của Ukraine và an ninh lương thực toàn cầu", Sybiha nói.

Ngày 11 tháng 8, Ủy ban Âu Châu thông báo với tờ Kyiv Independent rằng họ đã gặp gỡ Ukraine, Moldova và Rumani "để đánh giá tình hình liên quan đến các tuyến vận chuyển thay thế thông qua Làn đường Đoàn kết".

Các làn đường đoàn kết Liên Hiệp Âu Châu-Ukraine được thành lập lần đầu tiên vào năm 2022, khi Ukraine cũng gặp khó khăn trong việc đưa nông sản ra thị trường thế giới do Nga tiến hành các cuộc tấn công dọc bờ biển Hắc Hải của nước này.

"Hành lang sông Danube vẫn là lựa chọn khả thi nhất về tiềm năng năng lực vận chuyển, nhưng vẫn còn hạn chế và tốn kém hơn đối với hàng hóa cồng kềnh như ngũ cốc so với các cảng lớn hơn xung quanh Odessa", một phát ngôn viên của Ủy ban cho biết.

Bộ trưởng Nông nghiệp Ukraine Taras Vysotsky cho biết trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo Đức Der Spiegel ngày 6 tháng 8 rằng "không có lựa chọn thay thế thực sự nào cho các cảng Hắc Hải của chúng ta".

Ông dự đoán sản lượng thu hoạch ngũ cốc và hạt có dầu năm 2026 sẽ đạt 81,5 triệu tấn, trong đó 70% sẽ được xuất khẩu. Thỏa thuận với Moldova sẽ bao gồm hơn 1% tổng lượng xuất khẩu dự kiến của riêng các loại cây trồng này.

Ông Vysotsky ước tính rằng Ukraine sẽ hết khả năng lưu trữ từ tháng 10 trở đi, và khu vực Hắc Hải chiếm 70% sản lượng lúa mì toàn cầu.

"Nếu cuộc khủng hoảng tiếp diễn trong nhiều tháng, tác động toàn cầu có thể còn lớn hơn cả bốn năm trước", ông nói.

Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Hakan Fidan kêu gọi Nga và Ukraine ngừng tấn công tàu thuyền ở Hắc Hải và đang nỗ lực làm trung gian hòa giải giữa hai bên để khôi phục lại hoạt động vận chuyển hàng hải.

[Kyiv Independent: Moldova offers rail lifeline for Ukrainian food exports as Russia chokes Black Sea trade]

8. Lời đe dọa của Putin khiến Đức phải trao cho các cơ quan tình báo những quyền hạn mới quan trọng.

Chính phủ của Thủ tướng Đức Friedrich Merz đang hướng tới việc biến cơ quan tình báo nước ngoài của quốc gia thành một vũ khí mạnh mẽ hơn để đối phó với các mối đe dọa ngày càng gia tăng từ các đối thủ, bao gồm cả Putin.

Các bộ trưởng trong nội các của thủ tướng đã thông qua cải cách tình báo, đánh dấu một bước tiến lớn trong kế hoạch dài hạn nhằm tăng cường các cơ quan tình báo của đất nước bằng cách trao cho các điệp viên những quyền hạn mới rộng lớn.

Theo đề xuất cải cách, các điệp viên làm việc cho cơ quan tình báo nước ngoài của Đức, gọi tắt là BND, có thể thực hiện các hành vi phá hoại, tiến hành các hoạt động tấn công mạng và theo đuổi các hoạt động gián điệp quyết liệt hơn. Cho đến nay, các điệp viên này chỉ được phép thực hiện các hoạt động thu thập thông tin do những hạn chế có chủ ý được đặt ra sau Thế chiến II nhằm ngăn chặn sự lặp lại những hành vi lạm dụng do bộ máy tình báo Đức Quốc xã gây ra.

Nhưng với mối đe dọa từ các hoạt động phá hoại và gây ảnh hưởng của Nga ngày càng gia tăng — và những lo ngại rằng Tổng thống Donald Trump có thể ngăn chặn hoặc lợi dụng việc chia sẻ thông tin tình báo mà Đức đang phụ thuộc rất nhiều — chính phủ của ông Merz đã tiến hành thúc đẩy việc tăng cường chưa từng có tiền lệ đối với bộ máy tình báo nước ngoài của đất nước.

"Hàng ngày chúng ta là mục tiêu của hoạt động gián điệp, phá hoại, tấn công mạng và các hành động bí mật của các thế lực nước ngoài nhằm gây bất ổn cho nước Đức, gây hại cho đất nước chúng ta và tạo ra những thay đổi chính trị và xã hội trong nước", Bộ trưởng Nội vụ Alexander Dobrindt nói với các phóng viên sau cuộc họp nội các ở Berlin.

"Nhiệm vụ của chúng tôi là liên tục điều chỉnh nhiệm vụ bảo vệ của tiểu bang cho phù hợp với các kịch bản đe dọa mới này," ông nói thêm.

Các cải cách này vẫn cần được cả hai viện của quốc hội thông qua trước khi có hiệu lực vào năm 2027.

Nina Warken, nhà lãnh đạo văn phòng thủ tướng phụ trách cải cách BND, cho rằng Đức không còn đủ khả năng dựa dẫm quá nhiều vào các đồng minh nước ngoài cho các hoạt động tình báo tinh vi mà nước này từ lâu đã không thể tự thực hiện được.

Ông Warken nói: "Cho đến nay - và điều này phải được nói một cách khách quan - chúng ta đã dựa dẫm quá nhiều vào các đối tác trong quá nhiều lĩnh vực liên quan đến an ninh để giúp bảo đảm an ninh của chúng ta. Nói tóm lại, chúng ta quá phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các cơ quan tình báo của các quốc gia khác. Và trong quá nhiều lĩnh vực, sự hỗ trợ này chỉ là một chiều."

Cơ quan tình báo nước ngoài của Đức thời hậu chiến được thành lập năm 1956 với nhiều ràng buộc pháp lý hơn so với các cơ quan tình báo ở những nơi khác. Những ràng buộc đó đã dẫn đến việc Đức phụ thuộc đặc biệt vào Mỹ trong việc thu thập thông tin tình báo.

Trước mối đe dọa ngày càng gia tăng từ Nga, các chính trị gia hàng đầu hiện nay cho rằng đã đến lúc cần trao cho các cơ quan tình báo Đức khả năng phản công mạnh mẽ hơn. Luận điểm này càng trở nên cấp thiết hơn sau khi phát hiện một máy bay điều khiển từ xa mang chất nổ tại phi trường Leipzig-Halle ở miền đông nước Đức tuần trước, gần một máy bay Antonov của Ukraine dùng để vận chuyển đạn dược.

Trong phát biểu sau vụ việc, Dobrindt không trực tiếp nêu tên Nga là bên chịu trách nhiệm về vụ xâm nhập bằng máy bay điều khiển từ xa, nhưng nói rằng "mối đe dọa hỗn hợp là rõ ràng" và những mối nguy hiểm như vậy không xuất phát từ những người nghiệp dư mà "thường liên quan đến các thế lực nước ngoài". Hôm thứ Tư, ông cho biết kết quả điều tra về vụ việc máy bay điều khiển từ xa vẫn đang chờ giải quyết.

Theo một báo cáo của cơ quan tình báo nội địa Đức năm ngoái, an ninh của nước này "đã xấu đi đáng kể" sau cuộc xâm lược toàn diện Ukraine của Nga.

Cải cách tình báo của Đức sẽ cho phép các nhà chức trách chủ động ứng phó với các mối đe dọa hỗn hợp như vụ máy bay điều khiển từ xa ở Leipzig. Theo đề xuất cải cách, các biện pháp có thể bao gồm việc vạch trần những người liên quan hoặc phá hủy tài sản của họ, đến việc phá hoại chất nổ trước khi tấn công hoặc cung cấp thông tin tình báo sai lệch cho đối phương sau đó. Bất kỳ phản ứng nào cũng phải liên quan trực tiếp đến vụ việc ban đầu và không được gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc an toàn thể chất.

Ông Dobrindt nói: "Chúng tôi đang mở rộng khả năng kỹ thuật của các cơ quan tình báo và trao cho họ quyền hạn hoạt động thực tế. Điều này không chỉ đơn thuần là giúp các cơ quan này có thể quan sát và nghe rõ hơn trong tương lai, cũng như phân tích thông tin nhanh hơn. Trên hết, đó là khả năng chủ động thực hiện các biện pháp chống lại những kẻ tấn công và đối thủ của chúng ta."

Theo đề xuất cải cách, BND cũng sẽ được giảm bớt các hạn chế về bảo vệ dữ liệu, cho phép cơ quan này sử dụng rộng rãi hơn các công cụ như trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI và nhận diện khuôn mặt, cũng như lưu trữ dữ liệu trong thời gian dài hơn. Cơ quan này cũng dự kiến sẽ nhận được nhiều kinh phí hơn trong những năm tới. Chính phủ của ông Merz đã tăng ngân sách của cơ quan này khoảng 26% lên 1,51 tỷ euro trong năm nay.

[Politico: Putin threat pushes Germany to give spies major new powers]

9. Máy bay điều khiển từ xa bị bắn hạ trong không phận Latvia

Quân đội Latvia hôm thứ Sáu cho biết các máy bay chiến đấu đã bắn hạ một máy bay điều khiển từ xa xâm nhập không phận nước này.

Vụ chặn bắt diễn ra trong bối cảnh Âu Châu gia tăng lo ngại về hoạt động máy bay điều khiển từ xa trái phép, khi cuộc chiến Nga-Ukraine bước sang năm thứ năm.

Quân đội cho biết trong một bài đăng trên X rằng mối đe dọa đã chấm dứt, đồng thời cho biết thêm rằng các máy bay chiến đấu của đồng minh đã tiêu diệt thành công chiếc máy bay điều khiển từ xa xâm nhập không phận của quốc gia thành viên NATO này.

Nước láng giềng bên bờ biển Baltic, Phần Lan, cũng đã áp đặt các hạn chế tạm thời về hàng không và hàng hải ở phía đông Vịnh Phần Lan vào thứ Sáu, lực lượng quốc phòng nước này cho biết trên tờ X.

Động thái này được mô tả là biện pháp phòng ngừa nhằm bảo đảm an toàn cho người dân xung quanh và khả năng hoạt động của các nhà chức trách trong việc đối phó với các máy bay điều khiển từ xa tiềm tàng.

Vài giờ sau, thống đốc vùng Leningrad phía tây bắc nước Nga cho biết lực lượng phòng không đã bắn hạ 54 máy bay điều khiển từ xa của Ukraine.

"Một vụ hỏa hoạn đã xảy ra tại cảng Ust-Luga trên biển Baltic sau vụ tấn công", Thống đốc khu vực Aleksandr Drozdenko cho biết trên Telegram.

Hôm thứ Hai, các máy bay chiến đấu của Pháp tham gia sứ mệnh tuần tra không phận Baltic của NATO đã bắn hạ một máy bay điều khiển từ xa ở Latvia, đánh dấu lần đầu tiên lực lượng phản ứng nhanh của liên minh bắn hạ một máy bay điều khiển từ xa lạc hướng trên lãnh thổ nước này.

Tuần trước, nhà chức trách Đức đã phát hiện một máy bay điều khiển từ xa chở đầy chất nổ tại phi trường Leipzig, trong khi hoạt động tại phi trường Hanover bị gián đoạn sau khi một máy bay điều khiển từ xa xâm nhập vào không phận hạn chế, các quan chức cho biết với hãng tin AFP hôm thứ Ba.

[Kyiv Post: Drone Shot Down in Latvian Airspace: Military]

10. Ukraine nhận được thi hài của 261 binh sĩ tử trận từ Nga.

Hôm Thứ Sáu, 14 Tháng Tám, Trụ sở Điều phối về Đối xử với Tù binh Chiến tranh của Ukraine cho biết nước này đã nhận được thi thể của 261 người, mà theo phía Nga, là các quân nhân Ukraine.

Hài cốt đã được đưa về Ukraine như một phần của nỗ lực hồi hương có sự tham gia của các cơ quan an ninh, quốc phòng và thực thi pháp luật của Ukraine.

Các nhà điều tra và chuyên gia pháp y Ukraine sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết để xác định danh tính của những người được hồi hương.

Xác định danh tính người đã ngã xuống

Quá trình xác định danh tính sẽ có sự tham gia của các điều tra viên từ các cơ quan thực thi pháp luật cùng với các chuyên gia từ các tổ chức chuyên môn có liên quan.

Bộ Chỉ huy Điều phối cho biết việc hồi hương được thực hiện nhờ sự phối hợp giữa Bộ Chỉ huy Điều phối về Đối xử với Tù binh Chiến tranh, Trung tâm Liên hợp thuộc Cơ quan An ninh Ukraine, Quân đội Ukraine, Bộ Nội vụ, Ủy viên Quốc hội Ukraine về Nhân quyền, Ban Thư ký của Ủy viên về Người mất tích trong Trường hợp Đặc biệt, Cơ quan Khẩn cấp Nhà nước và các cơ cấu khác trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng của Ukraine.

Hội Hồng Thập Tự quốc tế cũng hỗ trợ quá trình hồi hương.

Trung tâm Hợp tác Dân sự-Quân sự chung của Quân đội Ukraine sẽ vận chuyển hài cốt được hồi hương đến các cơ sở nhà nước chuyên trách và tổ chức chuyển giao cho các cơ quan thực thi pháp luật và các cơ sở giám định pháp y.

Các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã phá hủy tới một phần ba sức chứa kho hàng của Wildberries và số hàng hóa trị giá ước tính 480 tỷ hr.

Bộ Chỉ huy Điều phối cho biết các đại diện của các cấu trúc hợp tác dân sự-quân sự của Quân đội cũng chịu trách nhiệm điều phối tổng thể quá trình này.

Những nỗ lực hồi hương trước đó

Đầu tháng 7, Ukraine đã hồi hương 501 thi thể mà Nga tuyên bố thuộc về các quân nhân Ukraine.

Trụ sở điều phối việc đối xử với tù binh chiến tranh đã xác nhận việc hồi hương, đồng thời cho biết các điều tra viên thực thi pháp luật và các đại diện khác của các tổ chức chuyên môn sẽ tiến hành tất cả các biện pháp pháp y cần thiết để xác định danh tính các nạn nhân.

Theo United24Media, Nga thỉnh thoảng có tiền lệ gửi trả hài cốt của binh lính mình về nước. Giới chức Ukraine cho rằng hành động này rất có thể là một nỗ lực nhằm tránh việc phải trả tiền bồi thường cho gia đình các binh sĩ Nga đã hy sinh.

Các nhà điều tra cho biết họ bắt đầu tiến hành các cuộc kiểm tra an toàn bắt buộc trước khi thực hiện bất kỳ công việc nhận dạng nào khác kể từ cuối tháng 6, do các thiết bị nổ được phát hiện nhiều lần trong thi thể của các binh sĩ Ukraine được hồi hương từ Nga.

[Kyiv Post: Ukraine Receives Bodies of 261 Fallen Soldiers From Russia]

11. Liệu Wildberries có phải là mục tiêu quân sự hợp pháp không?

Elina Beketova là một nhà báo, nhà nghiên cứu và chuyên gia phân tích chính trị người Ukraine. Hiện tại, cô đang làm việc tại Mỹ với vai trò là Nhà nghiên cứu (Fellow) thuộc Chương trình Khả năng phục hồi Dân chủ tại Trung tâm Phân tích Chính sách Châu Âu (CEPA) có trụ sở ở Washington. Cô vừa có bài viết nhan đề "Is Wildberries a legitimate military target?", nghĩa là "Phải chăng Wildberries là một mục tiêu quân sự hợp pháp?"

Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Thụy Khanh.

Hơn một năm nay, máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã liên tục tấn công các nhà máy lọc dầu và các cơ sở công nghiệp quân sự của Nga với tần suất đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, dường như không có điều gì khiến người dân Nga bình thường hoảng sợ như việc máy bay điều khiển từ xa tấn công Wildberries thường được gọi là "Amazon của Nga", phá hủy những "thánh địa" chứa đựng các đơn đặt hàng trực tuyến mà họ đang háo hức chờ đợi.

Bắt đầu từ ngày 18 tháng 7, lực lượng Ukraine đã phát động một chiến dịch quy mô lớn nhằm vào mạng lưới hậu cần của công ty.

Các cuộc tấn công đầu tiên nhắm vào các trung tâm phân phối ở Elektrostal và Kotovsk, gần Tambov. Hai ngày sau, máy bay điều khiển từ xa tấn công Koledino ngoại ô Podolsk, tiếp theo là các cơ sở ở Krasnodar và Nevinnomyssk vào ngày 22 tháng 7. Chiến dịch sau đó mở rộng đến các kho hàng ở tỉnh Voronezh, Shushary và Utkina Zavod gần St. Petersburg, cũng như Simferopol ở Crimea bị tạm chiếm, trước khi chuyển sang Ryazan, Penza, Sarapul, Perm, Volgograd, Zelenodolsk và Samara vào đầu tháng 8.

Theo ước tính của UNITED24 Media, máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã vô hiệu hóa khoảng 16 trong số 26 trung tâm hậu cần chính của Wildberries — gần hai phần ba mạng lưới. Trong số các khu phức hợp kho bãi lớn nhất của Nga, khoảng một nửa tổng diện tích sàn được tường trình đã bị phá hủy hoặc hư hại.

Wildberries là sàn thương mại điện tử lớn nhất nước Nga: chiếm 52% tổng số đơn đặt hàng trực tuyến trong cả nước; người sáng lập, Tatyana Kim, là người phụ nữ giàu nhất nước Nga.

Bản thân Wildberries công khai bán các mặt hàng có thể sử dụng ở tiền tuyến: cuộn cáp quang cho máy bay điều khiển từ xa FPV, hệ thống thả dù, áo giáp và mũ bảo hiểm, một số trong đó được dán nhãn "đã được thử nghiệm trong Chiến dịch Quân sự Đặc biệt".

Nếu tính theo tổng diện tích kho của công ty, ước tính sẽ khiêm tốn hơn — từ 10–17%; nhưng các nút lớn nhất lại là những nút giữ cho hệ thống hoạt động trơn tru, vì vậy tác động này không tương xứng với tỷ lệ diện tích sàn của chúng.

Từ ngày 18 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8, các kho hàng của Wildberries đã được nhắc đến 2.320 lần trong các nhóm người Nga mà chúng tôi theo dõi ở hầu hết các vùng của Nga. Con số này nhiều hơn tất cả các cuộc tấn công tại các nhà máy lọc dầu trong tháng 7 cộng lại, và gấp 13 lần so với cuộc tấn công ồn ào nhất.

Trước ngày 18 tháng 7, Wildberries chỉ xuất hiện trên các trang này dưới dạng quảng cáo — khoảng 10 lần một ngày; sau đó, con số này lên đến hàng trăm.

Chính các cuộc tấn công đã gây ra sự gia tăng đột biến về mức độ chú ý, và điều này đã kéo dài hơn hai tuần liên tiếp. Không có cuộc tấn công nào trong ngành dầu khí tạo ra hiệu ứng dây chuyền như vậy, bởi vì việc ảnh hưởng đến một nhà máy lọc dầu giờ đây là vấn đề của người khác ở khu vực lân cận, trong khi thị trường lại đồng nghĩa với việc có đơn đặt hàng, điểm nhận hàng và giá cả ở mọi thành phố trên cả nước.

Vậy, logic và cơ sở pháp lý nào cho việc tấn công một kho hàng trên thị trường, vốn dường như không phải là mục tiêu quân sự điển hình?

Thứ nhất, có sự đối xứng. Nga thường xuyên tấn công các cơ sở hậu cần dân sự — đặc biệt là Nova Poshta, một trong những công ty vận tải biển lớn nhất của Ukraine. Hồi tháng 10 năm 2023, một hỏa tiễn của Nga đã giết chết sáu nhân viên tại một kho phân loại gần Kharkiv.

Trong hơn hai tháng, từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2026, Nova Poshta đã phải hứng chịu ít nhất chín cuộc tấn công vào các nhà ga và chi nhánh của mình: tháng 6 chứng kiến sự phá hủy nhà ga công nghệ tiên tiến nhất của họ ở Kyiv, đầu tháng 7, thiệt hại xảy ra tại nhà ga tự động hóa ở Dnipro, và vào ngày 31 tháng 7, máy bay điều khiển từ xa Shahed đã phá hủy nhà ga phân loại ở Poltava.

Ukraine đang đáp trả bằng các cuộc tấn công vào hệ thống hậu cần thương mại của Nga. Tổng thống Volodymyr Zelenskiy gọi chiến dịch dài hạn này là "các biện pháp trừng phạt dài hạn"; ông cho rằng các cuộc tấn công vào Wildberries có liên quan đến hoạt động hậu cần phục vụ quân đội Nga.

Thứ hai, những nhà kho này không hề mang tính dân sự như vẻ bề ngoài của chúng.

Bản thân Wildberries công khai bán các mặt hàng có thể sử dụng ở tiền tuyến: cuộn cáp quang cho máy bay điều khiển từ xa FPV, hệ thống thả dù, áo giáp và mũ bảo hiểm, một số trong đó được dán nhãn "đã được thử nghiệm trong Chiến dịch Quân sự Đặc biệt".

Đáng chú ý, sau các cuộc tấn công, công ty đã loại bỏ các mặt hàng "quân sự" khỏi kết quả tìm kiếm của mình. Và phía Ukraine cũng nhận thấy hiệu quả thực tế: Yurii Fedorenko, chỉ huy Lữ đoàn Hệ thống Điều khiển từ xa số 429, cho biết sau các cuộc tấn công vào kho hàng, người Nga bắt đầu phân phối hạn chế việc cấp phát máy ảnh, cánh quạt và pin cho máy bay điều khiển từ xa.

Điều thú vị là, chính người Nga cũng đề cập đến tính chất lưỡng dụng của những nhà kho này trong phần bình luận.

Thứ ba, những cuộc tấn công này có tác động tài chính gián tiếp, trực tiếp góp phần chấm dứt chiến tranh.

Tatyana Kim đã đề nghị chính phủ hỗ trợ - cụ thể là hỗ trợ cho người bán và giảm thuế để giúp thanh toán cho các doanh nhân bị mất hàng hóa.

Theo Reuters, khoản nợ của công ty đã đạt 830 tỷ rúp (khoảng 10 triệu đô la) vào cuối năm 2025, và ngân hàng nhà nước VTB có thể đóng vai trò trung tâm trong bất kỳ gói hỗ trợ nào, khi đã lên kế hoạch mua lại 5% tài sản của tập đoàn Wildberries & Russ. Quyền kiểm soát Wildberries từ lâu đã không rõ ràng: về mặt hình thức, chủ sở hữu duy nhất là Kim, nhưng sau vụ sáp nhập đình đám năm 2024 với công ty quảng cáo Russ, có liên hệ với nhóm thân cận của tỷ phú Thượng Nghị Sĩ Suleiman Kerimov, sàn giao dịch này trên thực tế đã trở thành một tài sản chiến lược gắn liền với giới tinh hoa Điện Cẩm Linh.

Điều này có nghĩa là tiền của nhà nước rất có thể sẽ chảy vào Wildberries.

Đó không chỉ đơn thuần là một sự ưu ái thông thường dành cho doanh nghiệp, mà còn là hành động giải cứu tài sản tư nhân chiến lược gắn liền mật thiết với lợi ích của chính nhà nước. Và càng nhiều tiền được dùng để bù đắp những thiếu hụt đó, thì càng ít tiền còn lại cho chiến tranh. Hay như câu chuyện cười cũ thời Liên Xô: "Bố ơi, nếu giá rượu vodka tăng, bố có uống ít hơn không?" "Không con. Điều đó có nghĩa là bố sẽ ăn ít hơn."

Ngân sách nhà nước không phải là vô hạn, nhưng người Nga đã quen với việc nhà nước bù đắp những khoản thiếu hụt này bằng cách cắt giảm chi tiêu ở những lĩnh vực khác.

Các cuộc tấn công tại kho hàng của các chợ cũng là một vấn đề gây tranh cãi về mặt pháp lý và đạo đức.

Luật quốc tế không có định nghĩa chính thức về "sử dụng kép" — chỉ có tiêu chuẩn "mục đích quân sự", và các luật sư cảnh báo rằng việc hiểu quá rộng khái niệm này sẽ làm suy yếu sự bảo vệ cho thường dân.

Đồng thời, lịch sử cũng ghi nhận nhiều trường hợp một quốc gia tự vệ đã chủ động phá hủy cơ sở hạ tầng kinh tế của kẻ xâm lược.

Trong Thế chiến II, quân Đồng minh đã cố tình ném bom các ngành công nghiệp, hỏa xa và nhà máy lọc dầu của Đức; "kế hoạch vận tải" nổi tiếng năm 1944, trước cuộc đổ bộ Normandy, chính là sự phá hủy có hệ thống các cơ sở hậu cần, vốn mang hình thức dân sự nhưng có chức năng quân sự.

Điểm khác biệt là Ukraine đang chiến đấu với một đối thủ lớn hơn và mạnh hơn nhiều lần, một đối thủ không hề áp đặt bất kỳ luật lệ nào — và việc yêu cầu phía yếu hơn chỉ giới hạn mình trong các mục tiêu "truyền thống" là đồng nghĩa với việc đòi hỏi họ phải thất bại.

[Kyiv Independent: Is Wildberries a legitimate military target?]

12. Các quan chức cho biết không có "nguy cơ gia tăng" nào đối với Rumani bất chấp các vụ đe dọa bằng máy bay điều khiển từ xa.

Hôm Thứ Bẩy, 15 Tháng Tám, Bộ trưởng Quốc phòng Rumani Radu Dinel Miruță cho biết không có bằng chứng nào cho thấy nước này đang phải đối mặt với "nguy cơ gia tăng" của một cuộc tấn công từ Nga, bất chấp việc ghi nhận bốn vụ việc liên quan đến mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa trong cùng một ngày.

Thông báo này được đưa ra trong bối cảnh các cuộc tấn công đang leo thang ở Hắc Hải và gần biên giới Rumani do cuộc chiến toàn diện của Nga chống lại Ukraine.

Ngày 14 tháng 8, Rumani ghi nhận bốn vụ việc liên quan đến máy bay điều khiển từ xa, trong đó một số vụ đã dẫn đến việc di tản ở những khu vực phát hiện mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa. Chưa có thiệt hại nào về người hoặc tài sản được báo cáo liên quan đến các vụ việc máy bay điều khiển từ xa này.

"Các mảnh vỡ được tìm thấy trên lãnh thổ Rumani đang được các đội chuyên trách kiểm tra theo đúng quy trình đã được thiết lập," Bộ Trưởng Miruță cho biết. "Hiện tại, chưa có dấu hiệu nào cho thấy nguy cơ gia tăng đối với người dân Rumani."

Trước đó trong ngày, nhà chức trách Rumani đã báo cáo việc phát hiện các mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa ở bốn khu vực: các làng Greci và Plauru thuộc hạt Tulcea, khu nghỉ dưỡng Saturn trên bờ Hắc Hải và thị trấn ven biển Costinesti.

Các mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa được phát hiện ở hạt Tulcea đều nằm trong phạm vi 5 km tính từ biên giới Ukraine. Khu vực này trước đây đã từng phải đối mặt với một số vụ xâm nhập bằng máy bay điều khiển từ xa xuất phát từ các cuộc tấn công của Nga vào cơ sở hạ tầng cảng của Ukraine dọc sông Danube.

Cùng ngày, du khách tại thị trấn nghỉ dưỡng Saturn đã được di tản khỏi bãi biển sau khi lực lượng cấp cứu phát hiện mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa trôi dạt vào bờ, theo hãng tin Antena3 của Rumani. Lực lượng cấp cứu đã đến hiện trường để kiểm tra và thu hồi các mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa.

Truyền thông Rumani cũng đưa tin về việc phát hiện một mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa khác gần Costinesti, một thị trấn ven biển cách Saturn 17 km (khoảng 10,5 dặm). Mảnh vỡ này có khả năng thuộc về cùng một chiếc máy bay điều khiển từ xa được tìm thấy trên bãi biển ở Costinesti vào ngày hôm trước.

Các mảnh vỡ đang được kiểm tra và nguồn gốc của những chiếc máy bay điều khiển từ xa này vẫn chưa được xác định.

Bộ Trưởng Miruță mô tả các vụ việc máy bay điều khiển từ xa là "hậu quả ngoài ý muốn" từ các cuộc tấn công gia tăng ở Hắc Hải và cho biết họ đã tăng cường các biện pháp giám sát và theo dõi để đối phó.

Bộ Ngoại giao Rumani cho biết nước này "đang liên tục theo dõi tình hình gần biên giới và điều chỉnh các biện pháp bảo vệ và ứng phó khi tình hình diễn biến".

Trong hai tháng qua, Nga đã tăng cường các cuộc tấn công vào các hải cảng và tàu dân sự của Ukraine trên Hắc Hải nhằm mục đích làm tê liệt tuyến đường thương mại quan trọng của nước này. Khoảng 90% hàng nông sản của Ukraine được xuất khẩu qua Hắc Hải, chiếm 20% tổng sản phẩm quốc nội, gọi tắt là GDP của Kyiv trước khi cuộc xâm lược toàn diện diễn ra.

Trong những tuần gần đây, Kyiv và Mạc Tư Khoa đã trao đổi các cuộc tấn công vào cảng và tàu thuyền, dẫn đến những lo ngại ngày càng tăng về một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu.

Trong bối cảnh mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa trôi dạt vào các bãi biển của Rumani, Điện Cẩm Linh ngày 14 tháng 8 đã bác bỏ đề nghị ngừng bắn của Ukraine dựa trên sáng kiến ngũ cốc Hắc Hải giai đoạn 2022-2023.

Máy bay điều khiển từ xa của Nga đã nhiều lần xâm phạm lãnh thổ Rumani trong suốt cuộc chiến tranh toàn diện chống lại Ukraine. Vụ việc nghiêm trọng nhất là một máy bay điều khiển từ xa của Nga đã tấn công một tòa nhà dân cư ở thành phố Galați vào ngày 29 tháng 5, làm bị thương hai người.

Cuối tháng 7, hệ thống phòng không Rumani đã bắn hạ ba máy bay điều khiển từ xa của Nga trong vòng ba ngày, khiến Bucharest phải triệu tập đại sứ Nga của mình.

[Kyiv Independent: No 'increased risk' to Romania despite day of drone scares, officials say]
 
Phê bình, hoan hô, đả đảo trên mạng xã hội có thể bị vạ tuyệt thông không? Luật sư giáo luật trả lời
VietCatholic Media
15:17 15/08/2026




1. Chưa đến 7% người Công Giáo Đức tham dự Thánh lễ hàng tuần.

Theo số liệu mới nhất do các giám mục nước này công bố, chưa đến bảy phần trăm người Công Giáo ở Đức tham dự Thánh lễ hàng tuần.

Một nghiên cứu toàn diện về đời sống của Giáo Hội Công Giáo tại Đức đã làm sáng tỏ thêm về tình trạng thực tế của đức tin tại quốc gia này. Trong những năm gần đây, các bản tin về Giáo hội tại Đức hầu như đánh đồng Tiến Trình Công Nghị với sự suy giảm sức sống của Giáo Hội Công Giáo đi kèm. Những số liệu mới nhất tiếp tục xu hướng đó.

Trong hầu hết mọi lĩnh vực, Giáo hội tại Đức đều chịu ảnh hưởng. "Chúng ta có ít tín hữu hơn, ít người tham dự lễ thờ phượng hơn, ít nhân viên mục vụ hơn, và hoàn cảnh tài chính cũng thay đổi", Giám mục Heiner Wilmer, chủ tịch Hội đồng Giám mục Đức, gọi tắt là DBK, viết.

Nhưng ngài cũng lên án Giáo hội ở Đức trước ý kiến cho rằng đó chỉ là "câu chuyện về sự suy thoái", vì các số liệu "thể hiện sự tận tâm, đáng tin cậy và trách nhiệm lớn lao", ngài nói.

Thực tế phũ phàng nằm ở những số liệu thống kê được nêu trong báo cáo thường niên phiên bản mới nhất, mô tả chi tiết tình hình sức khỏe của Giáo hội tính đến năm 2025.

Số lượng người Công Giáo nhiều hơn người Tin lành gần hai triệu người, với dân số Công Giáo tập trung nhiều nhất ở Bavaria và Saarland. Có khoảng 19,2 triệu người Công Giáo và gần 17,4 triệu người Tin lành, nhưng đó là nơi mà những tin tức tích cực bắt đầu giảm dần.

Trong số hơn 19 triệu người Công Giáo đó, chỉ một tỷ lệ rất nhỏ thực sự tham dự Thánh lễ Chúa Nhật. Chỉ có 1,3 triệu người – tương đương khoảng 6,8% – được hỏi là tham dự Thánh lễ Chúa Nhật hàng tuần vào năm 2025.

Tín ngưỡng Công Giáo tại Đức đang tiếp tục xu hướng trì trệ đã diễn ra trong nhiều năm: cách đây hơn một thập niên, vào năm 2014, vẫn có khoảng 10,9% người Công Giáo tham dự Thánh lễ hàng tuần.

Số liệu cũng không mấy khả quan đối với sự phát triển của Giáo hội thông qua việc cải đạo hoặc rửa tội. Năm 2025, chỉ có hơn 109.000 người được tiếp nhận vào Giáo hội qua phép rửa tội, trong đó gần 2.300 người từ 14 tuổi trở lên.

Tuy nhiên, trái ngược hoàn toàn với 109.000 người được rửa tội là số người rời bỏ Giáo hội: hoặc chính thức từ bỏ Giáo hội hoặc đơn giản là qua đời.

Trên thực tế, số lượng đám tang gần gấp đôi số lượng lễ rửa tội. Năm 2025, có hơn 203.000 đám tang so với 109.000 lễ rửa tội. Sự chênh lệch này cũng không phải là điều mới mẻ, như những năm gần đây đã chứng minh:

2023: 131.245 lễ rửa tội so với 226.179 lễ tang.

Năm 2024: 116.274 lễ rửa tội so với 213.046 lễ tang.

Con số này cũng cần được cộng thêm vào số lượng lớn người rời bỏ Giáo hội. Khoảng 307.000 người đã rời bỏ Giáo hội ở Đức năm ngoái.

Con số 307.000 này chỉ càng làm nổi bật sự hỗn loạn nội bộ vốn có trong Giáo hội ở Đức, và thực tế còn thấp hơn so với những năm trước. Hơn 320.000 người đã rời bỏ Giáo hội vào năm 2024, hơn 400.000 người rời bỏ vào năm 2023 và khoảng nửa triệu người rời bỏ vào năm 2022.

Tất nhiên, sự suy giảm này không chỉ giới hạn ở giáo dân Công Giáo mà còn diễn ra trong hàng giáo sĩ. Hiện nay, Đức có khoảng 9.000 giáo xứ đang hoạt động, nhưng số lượng linh mục phục vụ các giáo xứ này đang giảm nhanh chóng.

Theo số liệu mới nhất, hiện chỉ có 11.083 linh mục đang phục vụ trong cả nước. Trong số đó, gần 2.300 đến từ nước ngoài, điều này có nghĩa là cuộc khủng hoảng ơn gọi linh mục ở Đức còn tồi tệ hơn so với những gì ban đầu người ta tưởng.

Nhưng sự suy giảm ở đây đã diễn ra trong một thời gian dài. Năm 2020 có 12.565 linh mục, năm 2014 có khoảng 14.400 linh mục, và quay ngược lại một thập niên trước đó đến năm 1995, con số này là khoảng 18.600.

Cho đến nay, hàng giáo phẩm Đức vẫn chưa tìm ra giải pháp để đảo ngược sự suy giảm. Tuy nhiên, DBK dường như cam kết tiếp tục tập trung vào tính đồng nghị và các chủ đề được đề xuất trong Tiến Trình Công Nghị quốc gia.

"Giáo Hội không chỉ hiện diện ở những nơi cử hành Thánh Lễ," Giám mục Wilmer khẳng định. "Giáo Hội còn hiện diện ở những nơi mọi người được đồng hành, được củng cố và được an ủi — nơi trách nhiệm xã hội được gánh vác, nơi văn hóa được thúc đẩy, đối thoại được tạo điều kiện và hy vọng được chia sẻ."

Ngài nói thêm: "Tính đồng nghị không phải chủ yếu là một thủ tục, mà là một lối sống tâm linh. Đó là việc lắng nghe lẫn nhau, chia sẻ trách nhiệm và định hình Giáo hội theo cách phục vụ Tin Mừng và con người. Hy vọng trở thành hiện thực khi Giáo hội không tự khép kín mà cùng nhau tiến bước."

Tiến Trình Công Nghị ở Đức đã bị nhiều giám mục chỉ trích rộng rãi, và nhiều lời cảnh báo từ Vatican đối với Tiến Trình Công Nghị đã bị phớt lờ.

Mới đây nhất, Tòa Thánh đã kiên quyết bác bỏ đề xuất của Hội đồng Đức tin Đức, gọi tắt là DBK về việc giáo dân giảng đạo – một đề xuất được đưa ra trong Tiến Trình Công Nghị – nhưng như tờ Catholic Herald đã đưa tin, lệnh cấm này đã bị công khai phớt lờ.

Nếu xu hướng hiện tại không được đảo ngược, các tín hữu Công Giáo Đức sẽ ngày càng phải đối mặt với một Giáo hội có dân số già hóa và nguồn lực ngày càng giảm.


Source:Catholic Herald



2. Liệu bạn có thể bị khai trừ khỏi giáo hội vì đăng một bài trên mạng xã hội hay không? Một luật sư giáo luật giải đáp.

Giữa làn sóng phản ứng dữ dội trên mạng sau khi SSPX quay trở lại ly khai, luật sư giáo luật hàng đầu, Cha Cédric Burgun, đã phác thảo phạm vi quyền tự do ngôn luận của các tín hữu trên internet.

Một lượt chia sẻ, một bình luận, một sự ủng hộ công khai cho một vấn đề gây tranh cãi: Trên mạng xã hội, người Công Giáo ngày nay có thể thể hiện lập trường chỉ bằng một cú nhấp chuột. Một thế hệ trước, việc bày tỏ ý kiến công khai đòi hỏi phải có phương tiện trung gian chính thức — dù là nhà xuất bản, nhà báo hay giám mục — trừ khi người đó có đủ can đảm để trực tiếp nói chuyện với đám đông. Luật Giáo hội được viết cho thế giới cũ hơn, chậm rãi hơn đó. Bộ luật năm 1983, vẫn là văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của Giáo hội, được soạn thảo hàng thập niên trước khi mạng xã hội xuất hiện và chưa bao giờ được sửa đổi để phù hợp với nó.

Tuy nhiên, những hệ lụy thực tế của sự im lặng pháp lý này không chỉ đơn thuần là lý thuyết. Chúng trở nên đặc biệt quan trọng khi Huynh Đoàn Thánh Piô X, gọi tắt là SSPX quay trở lại với điều mà Vatican coi là sự ly giáo công khai, gây ra những phản ứng trên mạng từ nhiều phía trong lĩnh vực phụng vụ và tư tưởng.

Bất chấp lời khẩn cầu cá nhân từ Đức Giáo Hoàng Lêô XIV và không có sự chấp thuận của Rôma, SSPX đã phong chức giám mục cho bốn linh mục của mình vào ngày 1 tháng 7 năm 2026, một hành động dẫn đến việc bị vạ tuyệt thông tự động theo luật giáo hội. Sắc lệnh của Vatican ngày hôm sau không chỉ tuyên bố rằng các giám mục liên quan trực tiếp bị vạ tuyệt thông mà còn nói rằng các tín hữu giáo dân "chính thức gia nhập" SSPX cũng bị coi là bị vạ tuyệt thông, đồng thời cảnh báo các giáo sĩ và các tín hữu khác không nên "gia nhập" giáo phái ly khai này.

Đó chính xác là ranh giới mà một số người ủng hộ có thể thấy mình đang thử thách trên mạng. Liệu một bài đăng hay một "bài chia sẻ lại" có thể bị coi là ly khai và dẫn đến việc tự khai trừ khỏi giáo hội không? Luật giáo hội có vạch ra ranh giới giữa tự do ngôn luận chính đáng và một hành vi đủ nghiêm trọng để phá vỡ sự hiệp thông với Rôma không?

Theo Cha Cédric Burgun, trưởng khoa Luật Giáo hội tại Viện Công Giáo Paris, đúng là không có khuôn khổ giáo luật nào cho mạng xã hội, nhưng điều này không khiến các tín hữu rơi vào tình trạng hoàn toàn thiếu luật pháp — mà chỉ yêu cầu họ áp dụng các nguyên tắc lâu đời vào một không gian công cộng đã mang những chiều kích mới.

Theo ngài, điều quan trọng về mặt giáo luật là tính chất công khai của tuyên bố, chứ không phải phương tiện truyền tải nó. "Bất kỳ hành vi ly khai hoặc dị giáo nào được thực hiện thông qua lời nói đều là một tuyên bố công khai theo cách này hay cách khác," ngài nói, "cho dù nó được viết trên báo, trên truyền hình hay trên internet."

Nói cách khác, một cơ quan truyền thông trực tuyến có giá trị pháp lý tương đương với một tuyên bố trên truyền hình hoặc một thông cáo báo chí. Nếu nội dung của nó mang tính chất ly khai một cách khách quan, thì phương tiện sử dụng không làm thay đổi cách luật pháp diễn giải nó. Điều đã thay đổi, trên hết, là số lượng người hiện nay chịu sự điều chỉnh của luật này.

Bốn mươi năm trước, trước khi một tuyên bố được công bố rộng rãi, nó thường phải trải qua một số hình thức kiểm duyệt của các tổ chức, chẳng hạn như được đăng trên báo hoặc xuất hiện trên chương trình truyền hình. "Ngày nay, với mạng xã hội, rõ ràng là mọi người đều có nền tảng riêng của mình," Cha Burgun nói.

Vậy nếu một bình luận công khai có thể bị coi là hành vi ly khai hoặc dị giáo, thì liệu có thể dẫn đến việc một người bị khai trừ khỏi giáo hội ngay lập tức chỉ vì một điều đơn giản như đăng một bài trên mạng xã hội hay không?

Vấn đề mang tính quy tắc so với Tự động

Mặc dù những tuyên bố trực tuyến mang tính chất ly khai trắng trợn không phải là vô hại về mặt giáo luật, nhưng chúng cũng không tự động cấu thành tội danh bị khai trừ khỏi giáo hội, vì hình phạt này chỉ dành cho những trường hợp cụ thể.

Luật Giáo hội định nghĩa "ly giáo" là sự đứt đoạn khách quan với quyền cai quản của Đức Giáo Hoàng hoặc với các thành viên của Giáo hội trực thuộc ngài. Cha Burgun lưu ý rằng sự đứt đoạn với quyền lực của Giáo hội này không chỉ giới hạn ở Đức Giáo Hoàng mà còn mở rộng ra ngoài Đức Giáo Hoàng đến các giám mục và các nhà lãnh đạo giáo hội khác được giao quyền cai quản.

Việc công khai bảo vệ một nhóm hoặc một lý tưởng, tự bản thân nó, không phải là hành vi ly giáo. "Việc bảo vệ chỉ trở nên có vấn đề về mặt giáo luật nếu về bản chất, nó là một hành vi ly giáo," Cha Burgun nói — ví dụ, một tuyên bố trực tuyến bác bỏ một cách khách quan quyền uy của Đức Giáo Hoàng.

Tuy nhiên, không giống như việc vạ tuyệt thông tiền kết hay tự động (latae sententiae) áp dụng cho một giám mục tấn phong một giám mục khác mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng, định nghĩa về ly giáo và dị giáo trong luật giáo hội không kèm theo hình phạt tự động. Ngài giải thích: "Để có hình phạt cho ly giáo hoặc dị giáo, cần phải có một thủ tục xác định chúng" trước khi có bất kỳ hình phạt vạ tuyệt thông nào được áp dụng.

Sự khác biệt đã thể hiện rõ ràng cả sau các lễ tấn phong bất hợp pháp năm 1988 của người sáng lập SSPX, Đức Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre, và các lễ tấn phong của SSPX mùa hè năm nay: Trong cả hai trường hợp, các giám mục đều tự động bị vạ tuyệt thông theo điều luật về các lễ tấn phong giám mục bất hợp pháp, nhưng bất kỳ hình phạt nào đối với những người ủng hộ đều cần được đánh giá riêng theo luật ly giáo của Giáo hội.

Cha Burgun lưu ý rằng ngay cả bước thứ hai đó cũng đi kèm với một điều kiện: Tòa Thánh đã nói rõ rằng hình phạt dành cho giáo dân "không thể được áp dụng tự động, mà phải được xem xét từng trường hợp cụ thể." Ngài giải thích rằng việc gia nhập chính thức thường đòi hỏi một số cam kết về mặt pháp lý —, chẳng hạn như tư cách thành viên bằng văn bản hoặc bằng lời nói trong SSPX, chỉ tham dự các nghi lễ của tổ chức này, hoặc từ chối lãnh nhận các bí tích khi tham dự Thánh lễ được cử hành trong Giáo Hội Công Giáo vì những lý do liên quan đến việc gia nhập SSPX, cùng với các hành vi tương tự khác.

Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho những gì mọi người đăng tải trực tuyến. Một bình luận vượt ra ngoài việc bày tỏ sự cảm thông — chẳng hạn như kêu gọi người khác tham dự Thánh lễ của SSPX thay vì Thánh lễ được cử hành theo nghi thức thông thường — có thể được xem xét trong đánh giá cá nhân đó, bởi vì nó khuyến khích hành vi mà Giáo hội cho là có vấn đề.

Theo đó, ngay cả một bài đăng có hàm ý ly giáo cũng không tự động dẫn đến việc bị vạ tuyệt thông. Bởi vì ly giáo và dị giáo không phải là những tội danh tự động bị trừng phạt, nên bất kỳ hình phạt nào cũng đòi hỏi một quy trình giáo luật để xác định rằng các điều kiện pháp lý đã được đáp ứng, bất kể tuyên bố đó xuất hiện trực tuyến, trên báo in hay ở nơi khác.

Cha Burgun cho biết, Điều 1329 của Giáo luật, quy định mở rộng trách nhiệm pháp lý cho những kẻ đồng phạm trong những trường hợp hạn chế, khó có thể áp dụng cho những người ủng hộ SSPX trực tuyến, vì lễ tấn phong giám mục không phụ thuộc vào sự tham gia của khán giả trực tuyến.

Cha Burgun nhấn mạnh rằng luật sư giáo luật đã cẩn thận nêu rõ các nguyên tắc giáo luật vẫn được áp dụng như nhau bất kể khuynh hướng thần học hay phụng vụ nào. Về nguyên tắc, những người Công Giáo công khai bác bỏ quyền uy của Giáo hội từ quan điểm cấp tiến cũng sẽ phải tuân theo cùng một khuôn khổ pháp lý.

Tuy nhiên, địa vị của tác giả lại làm thay đổi cách tính toán. Cha Burgun cho biết, các linh mục và tu sĩ có nghĩa vụ cao hơn trong việc duy trì sự hiệp thông của Giáo hội và nêu gương, do địa vị trong cuộc sống và sự đào tạo của họ — điều đó có nghĩa là những tuyên bố trực tuyến của một giáo sĩ phải tuân thủ một tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn so với một giáo dân. Ngài lưu ý rằng, giáo dân "dễ được tha thứ hơn" khi không biết luật so với giáo sĩ.

Tự do trong sự hiệp thông

Điều này tất yếu đặt ra câu hỏi về quyền tự do ngôn luận của chính các tín hữu. Cha Burgun đã đề cập đến Điều 205 của Giáo luật, định nghĩa sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội bao gồm sự hiệp thông trong việc quản trị cũng như trong đức tin, nhưng tiếp theo đó, trong Điều 212, là quyền — "thực ra, là bổn phận" — của các tín hữu được bày tỏ quan điểm của mình về các vấn đề Giáo hội "với lòng kính trọng đối với các mục tử của họ".

Ngài tuyên bố: "Giáo hội không phải là một nền dân chủ nơi mọi người được tự do nói những gì mình muốn, bất cứ khi nào mình muốn." Ngài thừa nhận rằng có "một mức độ tự do ngôn luận nhất định" trong Giáo hội — nhưng đó là sự tự do không bao giờ đi chệch khỏi lợi ích chung và mối quan tâm đến sự hiệp nhất.

Bất kể những điểm khác biệt về mặt pháp lý cuối cùng có thể được cho phép, Cha Burgun cho rằng cuộc khủng hoảng thực sự đang diễn ra trên mạng xã hội Công Giáo hiện nay có thể ít liên quan đến giáo luật hơn là liên quan đến tâm linh. Về vấn đề này, ngài đã trích dẫn câu châm ngôn được tường trình của Thánh Augustinô: in necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus caritas — "trong những điều cốt yếu, hãy hiệp nhất; trong những điều nghi ngờ, hãy tự do; trong mọi điều, hãy bác ái."

Ngài nói: "Nhiều phản ứng thiếu lòng bác ái và sự hiệp nhất đối với một cộng đồng giáo hội vốn đã bị tổn thương quá nhiều qua nhiều thế kỷ."

Ngài nói thêm: "Mạng xã hội không nên làm trầm trọng thêm những vết thương khó lành."


Source:National Catholic Register



3. Tiến sĩ George Weigel: Ukraine và những giới hạn của đối thoại

Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề "Ukraine and the Limits of Dialogue", nghĩa là "Ukraine và những giới hạn của đối thoại ".

Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Thụy Khanh.

Suốt nhiều tháng nay, tôi liên tục nhận được những tin nhắn đáng báo động vào sáng sớm từ Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav Shevchuk của Kyiv-Halyč, nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Ukraine nghi lễ Đông phương. Những tin nhắn này thường được gửi sau khi vị giáo sĩ anh hùng này đã trải qua cả đêm trong hầm trú bom (như ngài đã làm rất nhiều lần trong bốn năm rưỡi qua), và chúng bao gồm một bản đồ kỹ thuật số về vị trí các hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa của Nga đã chiếu sáng bầu trời đêm khi tấn công thủ đô của Ukraine.

Trên bản đồ không hề có mục tiêu quân sự nào. Các cuộc tấn công của Nga cố tình nhắm vào các địa điểm dân sự, và mặc dù hệ thống phòng không Ukraine bắn hạ được một số hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa, nhưng những hỏa tiễn khác vẫn lọt lưới. Người vô tội thiệt mạng và nhiều gia đình mất nhà cửa vì chiến dịch cố ý gây thương vong cho dân thường này.

Ngày 15 tháng 6, một máy bay điều khiển từ xa của Nga đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho Kyiv-Pechersk Lavra, "Tu viện Hang động" lịch sử của Chính thống giáo (chấm dứt lời tuyên bố của Sa hoàng Putin về việc "bảo vệ nền văn minh Kitô giáo").

Đây không phải là chiến tranh. Đây là khủng bố. Mục đích của nó là phá hủy tinh thần dân tộc. Và nó không hiệu quả, cũng giống như cuộc oanh tạc nước Anh của Đức Quốc xã năm 1940 vậy. Nếu một Quentin Reynolds của thế kỷ 21 đưa tin từ Ukraine ngày nay, câu nói cửa miệng của ông có thể là "Kyiv có thể chịu đựng được", giống như câu "Luân Đôn có thể chịu đựng được" đã tóm tắt sự gan dạ và quyết tâm của người Anh khi đối mặt với Không quân Đức.

Nhưng Kyiv không nên phải gánh chịu điều đó. Và thành phố này chỉ đang phải hứng chịu những cuộc tấn công khủng bố này bởi vì Sa hoàng Putin đang thua trong cuộc chiến trên bộ mà hắn ta khởi xướng vào ngày 24 tháng 2 năm 2022 — một cuộc chiến vẫn tiếp diễn bất chấp những con số thương vong thảm khốc của Nga do sự coi thường hoàn toàn tính mạng của những binh lính được huấn luyện kém cỏi dưới quyền chỉ huy của họ.

Những người theo chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản đã biện minh cho sự sẵn sàng chiến đấu đến chết trong Thế chiến II bằng cách viện dẫn đến bộ quy tắc Bushido theo chủ nghĩa dân tộc thế tục, coi sự đầu hàng là nhục nhã. Sự tàn bạo của Nga ở Ukraine thậm chí còn tồi tệ hơn vì nó được tường trình đang được biện minh bằng cách viện dẫn đến đức tin và chân lý Kitô giáo. Do đó, ngày 6 tháng 3 năm 2022, khi đó Nga đang bị đình trệ trong nỗ lực chiếm Kyiv bằng chiến thuật chớp nhoáng, Thượng phụ Kirill của Giáo hội Chính thống Nga, trong bài giảng tại Nhà thờ Chúa Cứu Thế ở Mạc Tư Khoa, đã cố gắng miêu tả cuộc tấn công của Nga vào Ukraine như một cuộc thánh chiến được biện minh về mặt tôn giáo giữa nước Nga Kitô giáo và phương Tây tà ác mà Ukraine khao khát tham gia. Nếu lời nói dối đó không phải là báng bổ, thì ít nhất nó cũng gần như là báng bổ. Chiến dịch phạm thánh nhằm cố gắng ban phước cho điều không thể biện minh này đã tiếp diễn kể từ đó và đã bị lên án bởi Đức Thượng Phụ Đại Kết Bácthôlômêô của Constantinople, "nhà lãnh đạo đứng đầu trong số những người ngang hàng" trong giới lãnh đạo các Giáo hội Chính thống.

Tất cả những điều này đặt ra những câu hỏi cấp bách về giới hạn của đối thoại trong một số hoàn cảnh lịch sử nhất định.

Winston Churchill, người từng sẵn sàng sử dụng khí mù tạt để ngăn chặn cuộc xâm lược nước Anh của Đức năm 1940, không phải là người e ngại khi sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, Churchill vẫn khẳng định rằng, như một nguyên tắc chung trong các vấn đề của con người, "Đối thoại trực tiếp tốt hơn là chiến tranh" (một châm ngôn sau này được Harold Macmillan chuyển thể thành "jaw-jaw is better than war-war"). Và quả thực là như vậy.

Các nhà lãnh đạo tôn giáo như Đức Giáo Hoàng Lêô không hề sai khi chỉ ra rằng chiến tranh luôn là một thất bại đối với nhân loại. Tại sao? Bởi vì chúng ta là những sinh vật có lý trí, những khả năng lý tính được ban tặng lẽ ra phải giúp chúng ta giải quyết các xung đột (vốn sẽ vẫn là một phần của thân phận con người cho đến tận thế) mà không cần đến bạo lực quy mô lớn. Vì vậy, việc thảo luận lý tính không thể giải quyết xung đột luôn là điều đáng tiếc.

Tuy nhiên, đó không phải là điều duy nhất đáng tiếc.

Đó là sự đầu hàng trước chế độ chuyên chế. Đó cũng là sự chấp thuận ngầm đối với một âm mưu diệt chủng nhằm xóa sổ một quốc gia và nền văn hóa của nó, là điều mà Sa hoàng Putin đã tuyên bố là mục tiêu trong cuộc xâm lược Ukraine. Đó cũng là sự thất bại trong việc cung cấp mọi sự hỗ trợ có thể cho những người, bất chấp nguy hiểm hàng ngày, chống lại những tên bạo chúa và những kẻ sát nhân cố tình nhắm vào những người không tham chiến trong nỗ lực phá vỡ ý chí kháng cự của một quốc gia.

Hơn nữa, việc sử dụng vũ lực một cách cân xứng và có chọn lọc có thể tạo ra các điều kiện cho khả năng đối thoại dẫn đến một nền hòa bình bao gồm an ninh, tự do và công lý.

Bởi vì có những trường hợp mà đối thoại thực sự và đàm phán chân chính chỉ có thể diễn ra khi kẻ xâm lược (hoặc những người duy trì quyền lực cho hắn) không chỉ nhận ra rằng nỗ lực chinh phục của chúng là vô ích, mà còn thấy rằng việc tiếp tục xâm lược sẽ gây ra tổn thất không thể chịu đựng nổi cho chúng. Khi đó, với cái giá phải trả đầy bi kịch, lý trí mới có thể đóng vai trò thích đáng của mình trong việc giải quyết xung đột.

Đó là thực trạng hiện nay ở Ukraine.


Source:National Catholic Register



4. Báo cáo cảnh báo về sự thay đổi trong quan điểm của Mỹ, khi họ không còn ưu tiên tự do tôn giáo quốc tế.

Một báo cáo do Trung tâm Tự do Tôn giáo Toàn cầu thuộc Đại học Dallas Baptist công bố đã nêu chi tiết những lo ngại rằng Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây khác đã chuyển hướng các ưu tiên ngoại giao của họ khỏi việc ủng hộ tự do tôn giáo quốc tế.

Báo cáo cáo buộc "các quốc gia phương Tây thoái lui khỏi nhân quyền" như tự do tôn giáo, điều này đã "góp phần vào sự đàn áp tôn giáo trên quy mô lớn ảnh hưởng đến các Kitô hữu và các cộng đồng tín ngưỡng khác trên toàn thế giới."

Theo các tác giả, Mỹ và nhiều quốc gia Âu Châu đang ưu tiên "các lợi ích vật chất và hữu hình", mà họ gọi là sự chuyển dịch "quay trở lại các chuẩn mực lịch sử của ngoại giao". Báo cáo ghi nhận một số thay đổi cụ thể được thấy trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump, bắt đầu từ Tháng Giêng năm 2025.

Trong cái mà các tác giả gọi là "sự rút lui của Mỹ", họ đã viện dẫn các yếu tố trong chính sách đối ngoại của chính quyền. Điều này bao gồm việc cắt giảm "kinh phí và nhân sự" cho các cơ quan và tổ chức phi chính phủ hỗ trợ tự do tôn giáo quốc tế, việc thiếu một đại sứ đặc mệnh toàn quyền về tự do tôn giáo quốc tế, và "sự ưu tiên yếu kém của Quốc hội và nhánh hành pháp".

Theo báo cáo, điều này trùng khớp với chính sách đối ngoại tập trung vào "sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và an ninh lãnh thổ" và xem nhẹ "các liên minh, giá trị và các công cụ quyền lực mềm".

Cụ thể, họ chỉ ra việc Tổng thống Trump cắt giảm ngân sách cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ, gọi tắt là USAID, bao gồm cả các sáng kiến về tự do tôn giáo quốc tế, và việc đình chỉ chương trình tái định cư người tị nạn, chương trình mà các nạn nhân bị bức hại tôn giáo trước đây được tiếp cận.

Báo cáo nêu rõ rằng chức năng và nhân sự của USAID đã bị cắt giảm "xuống mức tối thiểu theo quy định của luật" và các sáng kiến nhân quyền của Bộ Ngoại giao đã được chuyển giao cho các văn phòng khu vực, "vốn thiếu chuyên môn phù hợp và thường ưu tiên duy trì quan hệ hơn là các vấn đề nhân quyền". Báo cáo cũng cho biết Văn phòng Tự do Tôn giáo Quốc tế đã bị "hạ cấp" và sáp nhập vào văn phòng nhân quyền rộng hơn của Bộ Ngoại giao, đồng thời phải đối mặt với việc cắt giảm nhân sự.

Báo cáo lưu ý rằng chính quyền chưa tiết lộ có bao nhiêu chương trình tự do tôn giáo quốc tế đã bị cắt giảm. Tuy nhiên, báo cáo dẫn lời báo cáo thường niên năm 2026 của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, gọi tắt là USCIRF kết luận rằng "một phần đáng kể" các chương trình này đã bị chấm dứt.

Theo báo cáo của Đại học Dallas Baptist, các khoản cắt giảm bao gồm các chương trình "chống lại các luật lệ hạn chế, hỗ trợ các hệ thống cảnh báo sớm về bạo lực tôn giáo, thúc đẩy đối thoại liên tôn, ghi nhận các vi phạm, cung cấp hỗ trợ khẩn cấp cho các nhà hoạt động vì tự do tôn giáo và cung cấp viện trợ nhân đạo cho các cộng đồng bị đàn áp."

"Là nhà tài trợ tài chính lớn nhất cho các nỗ lực tự do tôn giáo quốc tế, việc chính phủ Mỹ đột ngột ngừng và cắt giảm viện trợ liên quan đến IRF đã gây tổn hại cho những người thụ hưởng và thực hiện các chương trình này, đồng thời làm suy yếu cộng đồng vận động cho IRF", báo cáo cho biết thêm.

Báo cáo lưu ý rằng các quốc gia Âu Châu đã noi theo Mỹ bằng cách cắt giảm viện trợ nước ngoài của chính mình, bao gồm cả các sáng kiến thúc đẩy tự do tôn giáo quốc tế.

Báo cáo cũng bày tỏ lo ngại rằng vị trí đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Mỹ về tự do tôn giáo quốc tế vẫn còn bỏ trống trong suốt nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump sau khi người được ông đề cử không được Thượng viện phê chuẩn. Bộ Ngoại giao cũng lưu ý rằng họ chưa công bố báo cáo thường niên về tự do tôn giáo quốc tế năm 2025, điều mà luật pháp yêu cầu.

Ngoài ra, báo cáo cũng ghi nhận công lao của chính quyền Trump trong việc chỉ định Nigeria là quốc gia đáng quan ngại đặc biệt, gọi tắt là CPC về vi phạm tự do tôn giáo, điều này đã thúc đẩy chính phủ nước này hợp tác với Mỹ để giải quyết các vấn đề. Báo cáo cũng đề cập đến chính sách cấp thị thực cấm những cá nhân đã chỉ đạo, cho phép, hỗ trợ hoặc tham gia vào các hành vi vi phạm tự do tôn giáo.

Trong một tuyên bố gửi cho EWTN News, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao cho biết, dưới thời Tổng thống Trump và Ngoại trưởng Marco Rubio, Hoa Kỳ đang tập trung vào tự do tôn giáo quốc tế và đã "tái khẳng định vị thế lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ" trong việc bảo vệ quyền này trong nước và quốc tế.

Phát ngôn nhân cho biết: "Dưới chính quyền này, Bộ Ngoại giao đã đạt được những tiến bộ chưa từng có trong việc tăng cường trách nhiệm giải trình bằng cách thu hồi thị thực của những người vi phạm tự do tôn giáo và thúc đẩy các hành động bảo vệ những người có đức tin trên toàn thế giới. Từ các hành động về thị thực toàn cầu, đến việc công khai bảo vệ Kitô hữu bị tấn công vì cầu nguyện thầm lặng ở Vương quốc Anh, đến việc chỉ định Nigeria là một quốc gia đáng quan ngại đặc biệt, chúng tôi một lần nữa khẳng định lập trường của mình đối với những người có đức tin."

"Bộ này khẳng định một cách dứt khoát rằng tự do tôn giáo là quyền tự do hàng đầu của quốc gia chúng ta," phát ngôn nhân nói thêm. "Chúng tôi cũng cam kết trực tiếp vận động ở mọi cấp độ để bảo vệ các tù nhân lương tâm."

Alberto Fernández, một cộng tác viên của EWTN và cựu nhà ngoại giao, nói với EWTN News rằng ông nghĩ sự tập trung của Mỹ vào tự do tôn giáo quốc tế "tinh tế hơn nhiều" so với những gì báo cáo đề cập, lập luận rằng việc ủng hộ tự do tôn giáo luôn bị xếp sau trong chính sách ngoại giao của Mỹ.

Ông Fernández cho biết các vấn đề về tự do tôn giáo luôn được xem là "vấn đề phụ" trong các cuộc đàm phán ngoại giao của Mỹ, chứ không phải là ưu tiên hàng đầu, và luôn "khó thu hút được sự chú ý". Ông nói rằng các nhà ngoại giao Mỹ có thể "nêu vấn đề tự do tôn giáo", nhưng "đó sẽ chỉ là một trong số hàng tá vấn đề được nêu ra với một quốc gia cụ thể".

Ông cũng phản bác việc USAID tập trung vào tự do tôn giáo quốc tế, nói rằng khi ông còn làm việc trong chính phủ hơn hai chục năm cho đến năm 2015, cơ quan này "phải bị ép buộc rất nhiều mới chịu làm [bất cứ điều gì về tự do tôn giáo]", và nói thêm: "Đó không phải là điều họ muốn làm; đó là điều họ bị ép buộc phải làm."

Dưới thời Tổng thống Trump, ông lưu ý rằng chính quyền đã ưu tiên tự do tôn giáo với chính phủ mới ở Syria, coi tự do tôn giáo ở Nigeria là ưu tiên hàng đầu và đã lên tiếng bảo vệ các tín hữu Chính thống giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ, khuyến khích việc mở cửa trở lại Học viện Chính thống giáo Hy Lạp Halki, nơi đã bị chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đóng cửa vào năm 1971.

"Đây sẽ luôn là một vấn đề gây tranh cãi," Fernández nói, đồng thời cho biết thêm rằng "mọi người cần tiếp tục thúc đẩy vấn đề này... trong các cuộc trao đổi với chính quyền."


Source:EWTN News