Phụng Vụ - Mục Vụ
Lòng Chúa thương xót
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
08:55 07/04/2015
LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT
Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh năm nay, Chúa Nhật kính lòng Chúa thương xót, kỷ niệm tròn một năm, Đức Giáo Hoàng Phanxicô phong hiển thánh cho hai Đức cố Giáo hoàng: thánh Gioan XXIII và thánh Gioan Phaolô II (Chúa Nhật lòng Chúa thương xót 27.4.2014 – Chúa Nhật lòng Chúa thương xót 12.4.2015).
Cách riêng thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, bên cạnh thánh nữ Faustina, người đồng hương của mình, đã trở thành Tông đồ của lòng Chúa thương xót.
Nhân lễ kính lòng Chúa thương xót, hơn nữa, tháng 4 cũng là dịp kỷ niệm tròn 10 năm thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II được Chúa gọi về (2.4.2005 – 2.4.2015), chúng ta hãy cùng suy niệm về lòng Chúa thương xót. Theo gương Đức Gioan Phaolô II, chúng ta học tập, sống và ra sức thực hiện nghĩa vụ làm tông đồ của lòng Chúa Thương xót.
I. GIOAN PHAOLÔ II – TÔNG ĐỒ LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT.
Lòng thương xót của Thiên Chúa và của Chúa Kitô, hay Chúa Kitô chính là hiện thân lòng thương xót của Thiên Chúa, là lời khẳng định quang trọng trong suốt thông điệp Thiên Chúa giàu lòng thương xót (TC gltx) của Đức Gioan Phaolô II.
Chẳng hạn: “Trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, Thiên Chúa trở nên hữu hình trong lòng thương xót của Ngài, nghĩa là làm nổi bật ưu phẩm của Ngài, ưu phẩm mà trong Cựu Ước qua nhiều hạn từ và khái niệm khác nhau đã từng xác định như ‘lòng thương xót’. Đức Kitô trao ý nghĩa chung cuộc cho toàn thể truyền thống Cựu Ước về lòng thương xót của Thiên Chúa. Chẳng những Người nói và giảng giải về lòng thương xót bằng những hình ảnh và những dụ ngôn, mà còn làm cho lòng thương xót này nhập thể và nhân cách hoá nó. Theo một nghĩa nào đó, Người chính là lòng thương xót. Đối với những ai thấy và tìm ra được lòng thương xót đó nơi Người, Thiên Chúa trở nên ‘hữu hình’ như là Chúa Cha ‘giàu lòng thương xót’” (TC gltx – số 2).
Trong khi viếng thăm Collevalenza - Italia năm 1981, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II cho biết quyết tâm của bản thân dành cho sứ điệp lòng thương xót: “Ngay từ lúc khởi đầu tác vụ ở Toà Thánh Phêrô tại Roma, tôi đã coi sứ điệp này là công việc đặc biệt của tôi. Chúa quan phòng đã uỷ thác sứ điệp ấy cho tôi trong bối cảnh hiện nay của nhân loại, Giáo Hội, và thế giới”.
Để vinh danh và phổ biến cho mọi người qua mọi thế hệ, lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, Đức Gioan Phaolô II đã nâng nữ tu Faustina Helena Kowalska (Maria Faustina Thánh Thể, người đã được Chúa Giêsu mạc khải lòng thương xót của Thiên Chúa suốt từ năm 1931 đến khi chị qua đời năm 1938) lên hàng chân phước vào Chúa Nhật thứ II Phục Sinh, 18.4.1993.
Bảy năm sau, cũng chính Đức Gioan Phaolô II tôn phong người nữ tu thánh thiện, người được Chúa chọn làm tông đồ của lòng Chúa thương xót, lên bậc hiển thánh ngày 30.4.2000, cũng là Chúa Nhật thứ II Phục Sinh. Cùng lúc, thánh nhân chính thức thiết lập lễ kính lòng Chúa thương xót trong khắp Hội Thánh Công Giáo vào Chúa Nhật II sau lễ Phục Sinh theo đúng yêu cầu của Chúa Giêsu mà Chị Faustina đã ghi trong nhật ký (NK) của mình: “Cha mong ước Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh sẽ là ngày đại lễ kính lòng thương xót Cha” (NK số 299).
Đặc biệt giảng trong thánh lễ phong thánh cho Chị Faustina, thánh Giáo hoàng dạy: “Chúa Giêsu cúi mình xuống trước mọi hình thức nghèo khổ của nhân loại, nghèo vật chất cũng như tinh thần. Sứ điệp về lòng thương xót tiếp tục chạm đến chúng ta qua cử chỉ Ngài đưa tay hướng về người đau khổ... Tôi chuyển đến mọi người lòng thương xót đó, để cho họ tìm hiểu ngày càng rõ ràng hơn về gương mặt đích thực của Thiên Chúa và gương mặt của anh em mình”.
Cũng trong bài giảng, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải đón nhận trọn vẹn sứ điệp xuất phát từ Lời Chúa trong Chúa Nhật thứ hai mùa Phục Sinh, và kể từ nay, Chúa Nhật này được gọi là ‘Chúa Nhật của lòng Chúa thương xót”.
Hơn thế, trong các văn kiện và các phát biểu, huấn từ của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người ta vẫn tìm thấy đây đó ý nghĩa hay trực tiếp nói đến lòng thương xót của Chúa. Xin được tóm tắt nội dung vài văn kiện của ngài:
Trong thông điệp đầu tay, thông điệp Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần (Rédemptor Hominis - 4.3.1979), ra đời ngay sau khi lên ngôi giáo hoàng chưa đầy nửa năm, Đức Gioan Phaolô II đã nhắc đến lòng Chúa thương xót:“Giáo Hội luôn chuẩn bị cho chúng ta, để hưởng ơn cứu rỗi của Đấng Cứu Chuộc, do lòng thương vô biên của Chúa toàn năng” (RH số 1).
Trong bài giảng thánh lễ kính lòng Chúa thương xót năm 2001, Đức Cố Giáo hoàng nói: “‘Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương’ (Tv 118:1). Chúng ta hãy sở hữu sự cảm thán của tác giả Thánh vịnh mà chúng ta hát trong phần Đáp ca: ‘Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương’. Để hiểu hết sự thật của các từ này, chúng ta hãy để phụng vụ hướng dẫn tới trung tâm của sự kiện cứu độ, điều kết hợp sự chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô với cuộc đời chúng ta và với lịch sử thế giới. Mầu nhiệm của lòng thương xót đã thay đổi tận gốc số phận của nhân loại. Đó là mầu nhiệm được mạc khải trọn vẹn về tình yêu của Chúa Cha, Đấng không rút lại sự hy sinh của Con Một Ngài vì để cứu độ chúng ta”.
Chiều thứ bảy, 17.8.2002, Khi cung hiến đền thờ lòng Chúa thương xót tại quê hương Thánh Faustina (Krakow Lagiewniki, Balan), Đức Gioan Phaolô II đã long trọng đọc lời nguyện dâng loài người cho lòng thương xót của Chúa: “Lạy Cha hằng hữu, vì tội lỗi chúng con và toàn thế giới, con xin dâng lên Cha Mình và Máu, Linh Hồn và Thiên Tính của Con Cha yêu dấu là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Vì những khốn khó của cuộc Khổ Nạn của Người, xin Cha thương đến chúng con và toàn thế giới (NK 476) ... Thế giới ngày nay cần có tình thương để bảo đảm rằng hết mọi bất công trên thế giới này sẽ được kết thúc trong chân lý rạng ngời… Hôm nay, tại đền thánh này, Con xin long trọng ký thác thế giới cho lòng thương xót của Chúa... Chớ gì lời hứa của Chúa Giêsu được nên trọn để từ nơi đây phải chiếu giãi ra tia sáng sửa soạn cho lần đến cuối cùng của Người (NK 1732). Hôm nay đây chúng con ký thác cho Cha vận mệnh thế giới. Xin Cha hãy cúi mình xuống trên tội nhân chúng con, hãy chữa lành nỗi yếu hèn của chúng con, hãy chiến thắng mọi sự dữ, và hãy ban ơn cho tất cả các dân tôc được cảm nghiệm thấy tình thương của Cha. Chớ gì họ luôn tìm thấy nguồn hy vọng nơi Cha, Thiên Chúa Ba Ngôi. Lạy Cha hằng hữu, vì cuộc khổ nạn và phục sinh của Con Cha, xin Cha thương chúng con và toàn thế giới. Amen”.
Trong tác phẩm cuối đời, cuốn “Hồi Niệm và Căn Tính” (22.2.2005), Đức Thánh Cha vẫn hướng về lòng Chúa xót thương: “Cái giới hạn áp đặt trên sự tối hậu là lòng Chúa thương xót (tr. 60-61). Trong quyển sách này, sau khi nói về biến cố bị sát hại ngày 13.5.1981, ngài chân thành nhìn nhận, Chúa cứu ngài vì lòng thương xót của Chúa. Đức Cố Giáo hoàng nói về lòng thương xót ấy: “Trong việc hy sinh hiến mình cho chúng ta; Chúa Kitô đã cống hiến cho đau khổ một ý nghĩa mới, mở ra một cái nhìn mới, một trật tự mới của yêu thương... Chính cái đau khổ này đốt cháy và rút ra ngay từ tội lỗi sự bừng nở thiện hảo dư đầy” (Sđd tr.189-190).
Trong huấn từ trưa Chúa Nhật kính lòng Chúa thương xót 3.4.2005 (là một bài viết Đức Thánh Cha chuẩn bị để đọc trước khách hành hương tại quảng trường đền thờ thánh Phêrô, nhưng ngài đã qua đời ngày 2.4.2005), vị Giáo Hoàng Tông đồ của lòng Chúa thương xót nói những lời cuối cùng: “Chúa Kitô Phục Sinh đã hiến ban cho nhân loại - một nhân loại có lúc dường như lạc mất và bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, bởi cái tôi và sự sợ hãi – ân huệ tình Ngài yêu thương, tình yêu tha thứ, hòa giải và phục hồi tinh thần hy vọng. Thế giới này cần phải hiểu biết và chấp nhận lòng thương xót của Chúa. Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa, xin thương xót chúng con và toàn thế giới”.
Thiên Chúa, dường như cảm kích tấm lòng của vị Tông đồ lòng Chúa thương xót, đã để xảy ra nhiều niềm vui: Vị Giáo hoàng được Chúa gọi về lúc 21 giờ 37 phút ngày 2.4.2005, chỉ một ít giờ ngay trước ngày lễ kính lòng Chúa thương xót. Ngài được Đức Bênêđictô XVI nâng lên hàng chân phước ngày 1.5.2011, là ngày lễ kính lòng Chúa thương xót. Và Đức Phanxicô đã phong hiển thánh cho vị tiền nhiệm của mình vào dịp kính lòng thương xót của Chúa (Chúa Nhật 27.4.2014).
Chúng ta hãy lắng nghe tâm tư của thánh Giáo hoàng Tông đồ lòng Chúa thương xót: “Giáo Hội của thời đại chúng ta phải trở nên ý thức đặc biệt và sâu xa về nhu cầu làm chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa trong sứ mạng toàn thể của mình, theo bước chân của truyền thống Cựu và Tân Ước, và trên hết là của chính Chúa Giêsu Kitô và các Tông đồ của Người... Giáo Hội phải coi việc tuyên xưng và đưa mầu nhiệm lòng thương xót vào cuộc sống là một trong những bổn phận chính yếu của mình trong mọi giai đoạn lịch sử, nhất là trong thời buổi hiện tại của chúng ta” (TC gltx – số 14).
II. CHÚNG TA SỐNG LÒNG THƯƠNG XÓT.
Cảm nghiệm về lòng Thiên Chúa yêu thương, và quyết tâm sống lòng thương xót, nhằm nỗ lực đáp lại tình yêu của Chúa, là việc làm có ý nghĩa, cần thiết và gấp rút.
Bởi Chúa Kitô, trước khi công bố Hiến chương Nước Trời và dạy: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5, 7), thì chính Người đã nêu gương trước bằng sự hiện diện của Người giữa nhân loại. Qua sự hiện diện ấy, Chúa Kitô cũng cho chúng ta thấy hình ảnh Chúa Cha, vì thương xót con người, đã chia sẻ chính mình cho trần gian, đã trao mình cho nhân loại để diễn tả lòng thương xót của Người cho họ, qua việc Chúa Kitô nhập thể để cứu độ:
“Khi trở nên gương mẫu cho con người về tình thương xót đối với kẻ khác, bằng việc làm hơn bằng lời nói, Đức Kitô công bố lời mời gọi hãy có lòng thương xót bởi vì đó là một trong những yếu tố cốt yếu của đạo đức Tin Mừng. Vấn đề ở đây không phải chỉ là thực hiện một điều răn hay một đòi hỏi có tính đạo đức nhưng còn là chu toàn một điều kiện tối quan trọng để Thiên Chúa có thể tự mạc khải qua lòng thương xót của Ngài đối với con người: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (TC gltx số 3).
Phúc Thật là những lời hứa của Thiên Chúa mà chúng ta chưa thể đạt được cách toàn hảo khi còn nơi trần thế. Ta chỉ có thể ướm đời mình theo giới răn của Chúa từ hôm nay, để có thể đạt tới Phúc Thật trong đời vĩnh cửu.
Vì thế, hãy cố mà sống lòng thương xót Chúa dạy, đừng để vuột mất, đừng để lỡ cơ hội, đừng chỉ thấy hôm nay mà quên phóng tầm mắt nhìn trước lối về của ngày mai.
Cuộc sống không bán vé quay lại. Nhưng ai cũng có thế mua vé vào tương lai. Cái gì đã mất, vĩnh viễn không thể thu hồi. Nhưng đi tìm tương lai, lại có thể găp. Phúc Thật mà Chúa hứa sẽ mất, nếu không vun bồi. Hãy sống Phúc Thật của Chúa ngay hôm nay, lúc này, tại đây. Sống Phúc Thật là mua vé đi về tương lai, một bảo đảm đời đời.
Hãy nhớ, cuộc đời chúng ta ngắn ngủi. Và hãy ghi tâm khắc cốt kỹ hơn nữa, lời Kinh Thánh:“Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi” (Tv 89, 10).
Nhờ luôn ghi khắc sự thật ấy, chúng ta sẽ sống từng ngày bằng lòng thương xót, để cho lòng thương xót chiếm ngự. Và nhờ chạm vào lòng thương xót từng ngày, suốt đời như thế, thì dù cuộc sống có ngắn ngủi, vẫn là một cuộc sống đẹp, một cuộc sống thắm, một cuộc sống tươi, một cuộc sống đáng sống. Kết quả cuối cùng của một cuộc sống như thế, sẽ là một cuộc sống nở hoa thiên đàng.
Chúng ta nói nhiều đến yêu thương. Sao chúng ta lại không yêu thương?
Nhiều nơi trong Hội Thánh tổ chức dâng lễ kính lòng Chúa thương xót hàng tháng, thậm chí hàng tuần. Sao chúng ta đánh mất lòng thương xót?
Chúng ta hô hào hiệp nhất. Sao chúng ta quên hiệp nhất?
Chúng ta kêu gọi hiệp thông rầm rộ. Sao lòng chúng ta lại tẩy chay ơn hiệp thông?
Chúng ta đọc Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa. Sao chúng ta không sống Lời Chúa?
Chúng ta, kẻ thì giảng Lời Chúa, kẻ thì nghe lời giảng ấy. Sao chúng ta không thấm Lời Chúa?
Chúng ta đọc mỗi Chúa Nhật trong các nhà thờ: “Thứ năm ai thương xót người, ấy là phước thật, vì chưng mình sẽ được thương xót” (kinh Tám Mối Phúc thật). Sao chúng ta còn xa cách lòng thương xót mà Chúa dạy?
Chúng ta nói nhiều đến việc sống Lời Chúa. Sao chúng ta sống xa cách Lời Chúa?
Cuối cùng: Chúng ta chỉ cho muôn dân đường về thiên đàng. Sao chúng ta lại tìm đường… đi đâu??
Hãy “hướng về vĩnh cửu”. Đó là cùng đích đời mình!
Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG
Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh năm nay, Chúa Nhật kính lòng Chúa thương xót, kỷ niệm tròn một năm, Đức Giáo Hoàng Phanxicô phong hiển thánh cho hai Đức cố Giáo hoàng: thánh Gioan XXIII và thánh Gioan Phaolô II (Chúa Nhật lòng Chúa thương xót 27.4.2014 – Chúa Nhật lòng Chúa thương xót 12.4.2015).
Cách riêng thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, bên cạnh thánh nữ Faustina, người đồng hương của mình, đã trở thành Tông đồ của lòng Chúa thương xót.
Nhân lễ kính lòng Chúa thương xót, hơn nữa, tháng 4 cũng là dịp kỷ niệm tròn 10 năm thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II được Chúa gọi về (2.4.2005 – 2.4.2015), chúng ta hãy cùng suy niệm về lòng Chúa thương xót. Theo gương Đức Gioan Phaolô II, chúng ta học tập, sống và ra sức thực hiện nghĩa vụ làm tông đồ của lòng Chúa Thương xót.
I. GIOAN PHAOLÔ II – TÔNG ĐỒ LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT.
Lòng thương xót của Thiên Chúa và của Chúa Kitô, hay Chúa Kitô chính là hiện thân lòng thương xót của Thiên Chúa, là lời khẳng định quang trọng trong suốt thông điệp Thiên Chúa giàu lòng thương xót (TC gltx) của Đức Gioan Phaolô II.
Chẳng hạn: “Trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, Thiên Chúa trở nên hữu hình trong lòng thương xót của Ngài, nghĩa là làm nổi bật ưu phẩm của Ngài, ưu phẩm mà trong Cựu Ước qua nhiều hạn từ và khái niệm khác nhau đã từng xác định như ‘lòng thương xót’. Đức Kitô trao ý nghĩa chung cuộc cho toàn thể truyền thống Cựu Ước về lòng thương xót của Thiên Chúa. Chẳng những Người nói và giảng giải về lòng thương xót bằng những hình ảnh và những dụ ngôn, mà còn làm cho lòng thương xót này nhập thể và nhân cách hoá nó. Theo một nghĩa nào đó, Người chính là lòng thương xót. Đối với những ai thấy và tìm ra được lòng thương xót đó nơi Người, Thiên Chúa trở nên ‘hữu hình’ như là Chúa Cha ‘giàu lòng thương xót’” (TC gltx – số 2).
Trong khi viếng thăm Collevalenza - Italia năm 1981, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II cho biết quyết tâm của bản thân dành cho sứ điệp lòng thương xót: “Ngay từ lúc khởi đầu tác vụ ở Toà Thánh Phêrô tại Roma, tôi đã coi sứ điệp này là công việc đặc biệt của tôi. Chúa quan phòng đã uỷ thác sứ điệp ấy cho tôi trong bối cảnh hiện nay của nhân loại, Giáo Hội, và thế giới”.
Để vinh danh và phổ biến cho mọi người qua mọi thế hệ, lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, Đức Gioan Phaolô II đã nâng nữ tu Faustina Helena Kowalska (Maria Faustina Thánh Thể, người đã được Chúa Giêsu mạc khải lòng thương xót của Thiên Chúa suốt từ năm 1931 đến khi chị qua đời năm 1938) lên hàng chân phước vào Chúa Nhật thứ II Phục Sinh, 18.4.1993.
Bảy năm sau, cũng chính Đức Gioan Phaolô II tôn phong người nữ tu thánh thiện, người được Chúa chọn làm tông đồ của lòng Chúa thương xót, lên bậc hiển thánh ngày 30.4.2000, cũng là Chúa Nhật thứ II Phục Sinh. Cùng lúc, thánh nhân chính thức thiết lập lễ kính lòng Chúa thương xót trong khắp Hội Thánh Công Giáo vào Chúa Nhật II sau lễ Phục Sinh theo đúng yêu cầu của Chúa Giêsu mà Chị Faustina đã ghi trong nhật ký (NK) của mình: “Cha mong ước Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh sẽ là ngày đại lễ kính lòng thương xót Cha” (NK số 299).
Đặc biệt giảng trong thánh lễ phong thánh cho Chị Faustina, thánh Giáo hoàng dạy: “Chúa Giêsu cúi mình xuống trước mọi hình thức nghèo khổ của nhân loại, nghèo vật chất cũng như tinh thần. Sứ điệp về lòng thương xót tiếp tục chạm đến chúng ta qua cử chỉ Ngài đưa tay hướng về người đau khổ... Tôi chuyển đến mọi người lòng thương xót đó, để cho họ tìm hiểu ngày càng rõ ràng hơn về gương mặt đích thực của Thiên Chúa và gương mặt của anh em mình”.
Cũng trong bài giảng, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải đón nhận trọn vẹn sứ điệp xuất phát từ Lời Chúa trong Chúa Nhật thứ hai mùa Phục Sinh, và kể từ nay, Chúa Nhật này được gọi là ‘Chúa Nhật của lòng Chúa thương xót”.
Hơn thế, trong các văn kiện và các phát biểu, huấn từ của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người ta vẫn tìm thấy đây đó ý nghĩa hay trực tiếp nói đến lòng thương xót của Chúa. Xin được tóm tắt nội dung vài văn kiện của ngài:
Trong thông điệp đầu tay, thông điệp Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần (Rédemptor Hominis - 4.3.1979), ra đời ngay sau khi lên ngôi giáo hoàng chưa đầy nửa năm, Đức Gioan Phaolô II đã nhắc đến lòng Chúa thương xót:“Giáo Hội luôn chuẩn bị cho chúng ta, để hưởng ơn cứu rỗi của Đấng Cứu Chuộc, do lòng thương vô biên của Chúa toàn năng” (RH số 1).
Trong bài giảng thánh lễ kính lòng Chúa thương xót năm 2001, Đức Cố Giáo hoàng nói: “‘Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương’ (Tv 118:1). Chúng ta hãy sở hữu sự cảm thán của tác giả Thánh vịnh mà chúng ta hát trong phần Đáp ca: ‘Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương’. Để hiểu hết sự thật của các từ này, chúng ta hãy để phụng vụ hướng dẫn tới trung tâm của sự kiện cứu độ, điều kết hợp sự chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô với cuộc đời chúng ta và với lịch sử thế giới. Mầu nhiệm của lòng thương xót đã thay đổi tận gốc số phận của nhân loại. Đó là mầu nhiệm được mạc khải trọn vẹn về tình yêu của Chúa Cha, Đấng không rút lại sự hy sinh của Con Một Ngài vì để cứu độ chúng ta”.
Chiều thứ bảy, 17.8.2002, Khi cung hiến đền thờ lòng Chúa thương xót tại quê hương Thánh Faustina (Krakow Lagiewniki, Balan), Đức Gioan Phaolô II đã long trọng đọc lời nguyện dâng loài người cho lòng thương xót của Chúa: “Lạy Cha hằng hữu, vì tội lỗi chúng con và toàn thế giới, con xin dâng lên Cha Mình và Máu, Linh Hồn và Thiên Tính của Con Cha yêu dấu là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Vì những khốn khó của cuộc Khổ Nạn của Người, xin Cha thương đến chúng con và toàn thế giới (NK 476) ... Thế giới ngày nay cần có tình thương để bảo đảm rằng hết mọi bất công trên thế giới này sẽ được kết thúc trong chân lý rạng ngời… Hôm nay, tại đền thánh này, Con xin long trọng ký thác thế giới cho lòng thương xót của Chúa... Chớ gì lời hứa của Chúa Giêsu được nên trọn để từ nơi đây phải chiếu giãi ra tia sáng sửa soạn cho lần đến cuối cùng của Người (NK 1732). Hôm nay đây chúng con ký thác cho Cha vận mệnh thế giới. Xin Cha hãy cúi mình xuống trên tội nhân chúng con, hãy chữa lành nỗi yếu hèn của chúng con, hãy chiến thắng mọi sự dữ, và hãy ban ơn cho tất cả các dân tôc được cảm nghiệm thấy tình thương của Cha. Chớ gì họ luôn tìm thấy nguồn hy vọng nơi Cha, Thiên Chúa Ba Ngôi. Lạy Cha hằng hữu, vì cuộc khổ nạn và phục sinh của Con Cha, xin Cha thương chúng con và toàn thế giới. Amen”.
Trong tác phẩm cuối đời, cuốn “Hồi Niệm và Căn Tính” (22.2.2005), Đức Thánh Cha vẫn hướng về lòng Chúa xót thương: “Cái giới hạn áp đặt trên sự tối hậu là lòng Chúa thương xót (tr. 60-61). Trong quyển sách này, sau khi nói về biến cố bị sát hại ngày 13.5.1981, ngài chân thành nhìn nhận, Chúa cứu ngài vì lòng thương xót của Chúa. Đức Cố Giáo hoàng nói về lòng thương xót ấy: “Trong việc hy sinh hiến mình cho chúng ta; Chúa Kitô đã cống hiến cho đau khổ một ý nghĩa mới, mở ra một cái nhìn mới, một trật tự mới của yêu thương... Chính cái đau khổ này đốt cháy và rút ra ngay từ tội lỗi sự bừng nở thiện hảo dư đầy” (Sđd tr.189-190).
Trong huấn từ trưa Chúa Nhật kính lòng Chúa thương xót 3.4.2005 (là một bài viết Đức Thánh Cha chuẩn bị để đọc trước khách hành hương tại quảng trường đền thờ thánh Phêrô, nhưng ngài đã qua đời ngày 2.4.2005), vị Giáo Hoàng Tông đồ của lòng Chúa thương xót nói những lời cuối cùng: “Chúa Kitô Phục Sinh đã hiến ban cho nhân loại - một nhân loại có lúc dường như lạc mất và bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, bởi cái tôi và sự sợ hãi – ân huệ tình Ngài yêu thương, tình yêu tha thứ, hòa giải và phục hồi tinh thần hy vọng. Thế giới này cần phải hiểu biết và chấp nhận lòng thương xót của Chúa. Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa, xin thương xót chúng con và toàn thế giới”.
Thiên Chúa, dường như cảm kích tấm lòng của vị Tông đồ lòng Chúa thương xót, đã để xảy ra nhiều niềm vui: Vị Giáo hoàng được Chúa gọi về lúc 21 giờ 37 phút ngày 2.4.2005, chỉ một ít giờ ngay trước ngày lễ kính lòng Chúa thương xót. Ngài được Đức Bênêđictô XVI nâng lên hàng chân phước ngày 1.5.2011, là ngày lễ kính lòng Chúa thương xót. Và Đức Phanxicô đã phong hiển thánh cho vị tiền nhiệm của mình vào dịp kính lòng thương xót của Chúa (Chúa Nhật 27.4.2014).
Chúng ta hãy lắng nghe tâm tư của thánh Giáo hoàng Tông đồ lòng Chúa thương xót: “Giáo Hội của thời đại chúng ta phải trở nên ý thức đặc biệt và sâu xa về nhu cầu làm chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa trong sứ mạng toàn thể của mình, theo bước chân của truyền thống Cựu và Tân Ước, và trên hết là của chính Chúa Giêsu Kitô và các Tông đồ của Người... Giáo Hội phải coi việc tuyên xưng và đưa mầu nhiệm lòng thương xót vào cuộc sống là một trong những bổn phận chính yếu của mình trong mọi giai đoạn lịch sử, nhất là trong thời buổi hiện tại của chúng ta” (TC gltx – số 14).
II. CHÚNG TA SỐNG LÒNG THƯƠNG XÓT.
Cảm nghiệm về lòng Thiên Chúa yêu thương, và quyết tâm sống lòng thương xót, nhằm nỗ lực đáp lại tình yêu của Chúa, là việc làm có ý nghĩa, cần thiết và gấp rút.
Bởi Chúa Kitô, trước khi công bố Hiến chương Nước Trời và dạy: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5, 7), thì chính Người đã nêu gương trước bằng sự hiện diện của Người giữa nhân loại. Qua sự hiện diện ấy, Chúa Kitô cũng cho chúng ta thấy hình ảnh Chúa Cha, vì thương xót con người, đã chia sẻ chính mình cho trần gian, đã trao mình cho nhân loại để diễn tả lòng thương xót của Người cho họ, qua việc Chúa Kitô nhập thể để cứu độ:
“Khi trở nên gương mẫu cho con người về tình thương xót đối với kẻ khác, bằng việc làm hơn bằng lời nói, Đức Kitô công bố lời mời gọi hãy có lòng thương xót bởi vì đó là một trong những yếu tố cốt yếu của đạo đức Tin Mừng. Vấn đề ở đây không phải chỉ là thực hiện một điều răn hay một đòi hỏi có tính đạo đức nhưng còn là chu toàn một điều kiện tối quan trọng để Thiên Chúa có thể tự mạc khải qua lòng thương xót của Ngài đối với con người: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (TC gltx số 3).
Phúc Thật là những lời hứa của Thiên Chúa mà chúng ta chưa thể đạt được cách toàn hảo khi còn nơi trần thế. Ta chỉ có thể ướm đời mình theo giới răn của Chúa từ hôm nay, để có thể đạt tới Phúc Thật trong đời vĩnh cửu.
Vì thế, hãy cố mà sống lòng thương xót Chúa dạy, đừng để vuột mất, đừng để lỡ cơ hội, đừng chỉ thấy hôm nay mà quên phóng tầm mắt nhìn trước lối về của ngày mai.
Cuộc sống không bán vé quay lại. Nhưng ai cũng có thế mua vé vào tương lai. Cái gì đã mất, vĩnh viễn không thể thu hồi. Nhưng đi tìm tương lai, lại có thể găp. Phúc Thật mà Chúa hứa sẽ mất, nếu không vun bồi. Hãy sống Phúc Thật của Chúa ngay hôm nay, lúc này, tại đây. Sống Phúc Thật là mua vé đi về tương lai, một bảo đảm đời đời.
Hãy nhớ, cuộc đời chúng ta ngắn ngủi. Và hãy ghi tâm khắc cốt kỹ hơn nữa, lời Kinh Thánh:“Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi” (Tv 89, 10).
Nhờ luôn ghi khắc sự thật ấy, chúng ta sẽ sống từng ngày bằng lòng thương xót, để cho lòng thương xót chiếm ngự. Và nhờ chạm vào lòng thương xót từng ngày, suốt đời như thế, thì dù cuộc sống có ngắn ngủi, vẫn là một cuộc sống đẹp, một cuộc sống thắm, một cuộc sống tươi, một cuộc sống đáng sống. Kết quả cuối cùng của một cuộc sống như thế, sẽ là một cuộc sống nở hoa thiên đàng.
Chúng ta nói nhiều đến yêu thương. Sao chúng ta lại không yêu thương?
Nhiều nơi trong Hội Thánh tổ chức dâng lễ kính lòng Chúa thương xót hàng tháng, thậm chí hàng tuần. Sao chúng ta đánh mất lòng thương xót?
Chúng ta hô hào hiệp nhất. Sao chúng ta quên hiệp nhất?
Chúng ta kêu gọi hiệp thông rầm rộ. Sao lòng chúng ta lại tẩy chay ơn hiệp thông?
Chúng ta đọc Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa. Sao chúng ta không sống Lời Chúa?
Chúng ta, kẻ thì giảng Lời Chúa, kẻ thì nghe lời giảng ấy. Sao chúng ta không thấm Lời Chúa?
Chúng ta đọc mỗi Chúa Nhật trong các nhà thờ: “Thứ năm ai thương xót người, ấy là phước thật, vì chưng mình sẽ được thương xót” (kinh Tám Mối Phúc thật). Sao chúng ta còn xa cách lòng thương xót mà Chúa dạy?
Chúng ta nói nhiều đến việc sống Lời Chúa. Sao chúng ta sống xa cách Lời Chúa?
Cuối cùng: Chúng ta chỉ cho muôn dân đường về thiên đàng. Sao chúng ta lại tìm đường… đi đâu??
Hãy “hướng về vĩnh cửu”. Đó là cùng đích đời mình!
Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG
Lòng thương xót của Thiên Chúa
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
17:13 07/04/2015
Chúa Nhật II PHỤC SINH, năm B
Cv 4,32-35 1Ga 5,1-6 Ga 20, 19-31
Chúa Nhật VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA Thiên Chúa
Thiên Chúa là tình yêu như lời thánh Gioan viết. Bởi vì yêu, con người dù có phản nghịch, dù có tội lỗi, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con người, Ngài luôn quan tâm và luôn yêu thương con người. Tình yêu Thiên Chúa được thể hiện cụ thể qua việc Ngài sai Con Một của Ngài là Chúa Giêsu xuống thế gian để sống với, sống vì, sống cho con người, ngoại trừ tội lỗi. Chúa Nhật II Phục Sinh được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chọn để kính nhớ lòng thương xót Chúa. Chúng ta hãy cám ơn Thánh Gioan Phaolô II đã truyền bá lòng thương xót của Thiên Chúa cho toàn thể Giáo Hội hoàn vũ…
LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA VÔ BỜ :
Các dụ ngôn trong Tin Mừng như : Người Cha nhân hậu, Chúa chăn chiên lành, Người phụ nữ ngoại tình,
Đồng bạc đánh mất vv…đều nói lên tình thương và lòng nhân từ của Thiên Chúa Cha. Xuyên suốt Tin Mừng Nhất Lãm và Tin Mừng của thánh Gioan, các tác giả Tin Mừng đã cho chúng thấy tình thương vô biên của Thiên Chúa. Các dụ ngôn, những phép lạ, những giáo huấn của Chúa nói cho cùng đều diễn tả và làm nổi bật lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu xuống trần gian, sống ở Nazarét 30 năm để làm gương cho nhân loại về tình yêu thương gia đình, lòng tôn kính, hiếu thảo đối với mẹ cha và làm gương về đời sống yêu thương cần cù lao động để làm ra tiền của, lương thực nuôi sống bản thân và gia đình. Những năm ở trần thế, Chúa Giêsu đã hăng say rao giảng và làm chứng cho nhân loại, cho mọi người biết : Thiên Chúa luôn yêu thương và tin tưởng vào Con Một Chúa. Sau cùng, Chúa Giêsu đã vâng lời Thiên Chúa Cha, chấp nhận cái chết nhục hình, bị đóng đinh trên thập giá, được mai táng trong mồ và ba ngày sau đã vinh quang sống lại, để đem lại ơn cứu độ cho nhân loại, cho con người, cho loài người.
Thần cho các môn đệ.Chính Thánh Thần sẽ dạy các môn đệ hiểu tất cả về Chúa Giêsu Phục Sinh và hiểu tất cả những điều Ngài đã dạy các môn đệ lúc Người còn sống. Chính Chúa Thánh Thần sẽ tháp nhập các môn đệ với Chúa Giêsu và các ngài sẽ tiếp nối sứ mạng rao giảng, sứ mạng cứu rỗi của Chúa dưới trần gian Chúa phục sinh đã hiện ra với các môn đệ nhiều lần, đã ban bình an và Thánh Thần cho các môn đệ. Sự an bình của Chúa phục sinh là sự bình an rất cần thiết mà mỗi người cần phải lãnh nhận.
Linh mục Christophe Husson đã viết :” Sự bình an mà Chúa Giêsu đã truyền cho các Tông đồ đúng là biểu tượng của lòng Thương Xót Chúa đối với chúng ta. Sự bình an của tâm hồn, mà cũng là sự bình an của lương tâm chúng ta.Bình an của toàn thể con người chúng ta là để cho Thần Khí của Đức Kitô bao phủ chúng ta bằng tình yêu cứu chuộc của Người. Bình an và hiệp nhất là điều để chúng ta khám phá và tái khám phá trong suốt cuộc đời. Chúng ta có thể tìm thấytrong các bài đọc của ngày Chúa Nhật này, Chúa Nhật của Lòng Chúa Thương Xót, một lời mời đến với sự bình an thanh thản đó. Chúng ta chỉ cần quan sát bài đọc của Sách Công vụ Tông Đồ. Đây là tinh thần huynh đệ đang ngự trị trong cộng đồng của các tông đồ và đang ở thế mạnh nhất.Không ai làm việc gì một mình,mỗi người đều liên quan đến với nhau; sự chia rẽ coi như không có.Sự hiệp thông gương mẫu này chứng minh tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta.
Quả vậy, Chúa không làm gì mà không có chúng ta, và ngay cả đôi lần chúng ta cảm thấy mình quá yếu đuối, vẫn chọn sự mỏng dòn này để thiết lập ngôi nhà của Người :” Hòn đá các thợ xây loại bỏ, lại là hòn đá góc tường !”. Đây là bài ca của người đã trải nghiệm trong cuộc đời, rằng mình được Chúa yêu vì cái mà mình đang là…Đó có phải là niềm tin chăng ? Một niềm tin đã được thanh tẩy với thời gian để nhận ra Thiên Chúa là Đấng luôn trong tình trạng trông đợi con người “.
CHÚNG TA PHẢI CÓ THÁI ĐỘ NÀO ĐỐI VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA :
Chúa Giêsu đã nhiều lần hiện ra với thánh nữ Faustina, người Ba Lan để xin thánh nữ loan truyền Lòng Thương xót Chúa và Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chọn Chúa Nhật II Phục Sinh để tôn kính Lòng Thương Xót Chúa. Ngài đã dạy : “ Giáo Hội có quyền và nghĩa vụ phải tôn kính, loan báo, và thực hành kêu cầu lớn tiếng kêu van khóc lóc Thiên Chúa của Lòng Thương Xót Chúa…”. Mỗi người chúng ta hãy thực hành đức yêu thương bác ái như Chúa đã dạy trong Tin Mừng:” Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương “ ( Ga 15, 12 ). Hãy tín thác đời mình cho Chúa :” Lạy Chúa Giêsu, con xin tín thác vào Chúa “.
Chúng ta phải năng chạy tới với Chúa Giêsu và tín thác đời mình cho Chúa.Chúng ta phải luôn tôn kính Lòng Thương Xót Chúa.
Thực hiện được những điều vừa nêu trên, thì chắc chắn cuộc đời chúng ta sẽ hạnh phúc vì :” Chúa Giêsu nói rằng Ta đến với con trong giờ lâm chung không với tư cách Quan tòa để xét xử công minh mà đến với con như Vị Cứu Tinh nhân hậu giàu Lòng Thương Xót ‘.
Lạy Chúa Giêsu giàu Lòng Nhân Từ Thương Xót xin ban cho nhân loại ơn hiểu biết để tất cả mau mắn nhận ra Lòng Thương Xót Chúa và biết tín thác vào Chúa. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Tại sao lại gọi Chúa Giêsu đầy lòng nhân hậu ?
2.Chúa đã hiện ra với nữ thánh nào và Người đã tỏ ra Người là Thiên Chúa nào ?
3.Thánh Giáo Hoàng nào đã phong thánh cho nữ tu Faustina ?
4.Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chọn ngày Chúa Nhật nào để tôn kính Lòng Thương Xót Chúa ?
5.Nữ tu Faustina người nước nào ?
Cv 4,32-35 1Ga 5,1-6 Ga 20, 19-31
Chúa Nhật VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA Thiên Chúa
Thiên Chúa là tình yêu như lời thánh Gioan viết. Bởi vì yêu, con người dù có phản nghịch, dù có tội lỗi, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con người, Ngài luôn quan tâm và luôn yêu thương con người. Tình yêu Thiên Chúa được thể hiện cụ thể qua việc Ngài sai Con Một của Ngài là Chúa Giêsu xuống thế gian để sống với, sống vì, sống cho con người, ngoại trừ tội lỗi. Chúa Nhật II Phục Sinh được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chọn để kính nhớ lòng thương xót Chúa. Chúng ta hãy cám ơn Thánh Gioan Phaolô II đã truyền bá lòng thương xót của Thiên Chúa cho toàn thể Giáo Hội hoàn vũ…
LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA VÔ BỜ :
Các dụ ngôn trong Tin Mừng như : Người Cha nhân hậu, Chúa chăn chiên lành, Người phụ nữ ngoại tình,
Đồng bạc đánh mất vv…đều nói lên tình thương và lòng nhân từ của Thiên Chúa Cha. Xuyên suốt Tin Mừng Nhất Lãm và Tin Mừng của thánh Gioan, các tác giả Tin Mừng đã cho chúng thấy tình thương vô biên của Thiên Chúa. Các dụ ngôn, những phép lạ, những giáo huấn của Chúa nói cho cùng đều diễn tả và làm nổi bật lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu xuống trần gian, sống ở Nazarét 30 năm để làm gương cho nhân loại về tình yêu thương gia đình, lòng tôn kính, hiếu thảo đối với mẹ cha và làm gương về đời sống yêu thương cần cù lao động để làm ra tiền của, lương thực nuôi sống bản thân và gia đình. Những năm ở trần thế, Chúa Giêsu đã hăng say rao giảng và làm chứng cho nhân loại, cho mọi người biết : Thiên Chúa luôn yêu thương và tin tưởng vào Con Một Chúa. Sau cùng, Chúa Giêsu đã vâng lời Thiên Chúa Cha, chấp nhận cái chết nhục hình, bị đóng đinh trên thập giá, được mai táng trong mồ và ba ngày sau đã vinh quang sống lại, để đem lại ơn cứu độ cho nhân loại, cho con người, cho loài người.
Thần cho các môn đệ.Chính Thánh Thần sẽ dạy các môn đệ hiểu tất cả về Chúa Giêsu Phục Sinh và hiểu tất cả những điều Ngài đã dạy các môn đệ lúc Người còn sống. Chính Chúa Thánh Thần sẽ tháp nhập các môn đệ với Chúa Giêsu và các ngài sẽ tiếp nối sứ mạng rao giảng, sứ mạng cứu rỗi của Chúa dưới trần gian Chúa phục sinh đã hiện ra với các môn đệ nhiều lần, đã ban bình an và Thánh Thần cho các môn đệ. Sự an bình của Chúa phục sinh là sự bình an rất cần thiết mà mỗi người cần phải lãnh nhận.
Linh mục Christophe Husson đã viết :” Sự bình an mà Chúa Giêsu đã truyền cho các Tông đồ đúng là biểu tượng của lòng Thương Xót Chúa đối với chúng ta. Sự bình an của tâm hồn, mà cũng là sự bình an của lương tâm chúng ta.Bình an của toàn thể con người chúng ta là để cho Thần Khí của Đức Kitô bao phủ chúng ta bằng tình yêu cứu chuộc của Người. Bình an và hiệp nhất là điều để chúng ta khám phá và tái khám phá trong suốt cuộc đời. Chúng ta có thể tìm thấytrong các bài đọc của ngày Chúa Nhật này, Chúa Nhật của Lòng Chúa Thương Xót, một lời mời đến với sự bình an thanh thản đó. Chúng ta chỉ cần quan sát bài đọc của Sách Công vụ Tông Đồ. Đây là tinh thần huynh đệ đang ngự trị trong cộng đồng của các tông đồ và đang ở thế mạnh nhất.Không ai làm việc gì một mình,mỗi người đều liên quan đến với nhau; sự chia rẽ coi như không có.Sự hiệp thông gương mẫu này chứng minh tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta.
Quả vậy, Chúa không làm gì mà không có chúng ta, và ngay cả đôi lần chúng ta cảm thấy mình quá yếu đuối, vẫn chọn sự mỏng dòn này để thiết lập ngôi nhà của Người :” Hòn đá các thợ xây loại bỏ, lại là hòn đá góc tường !”. Đây là bài ca của người đã trải nghiệm trong cuộc đời, rằng mình được Chúa yêu vì cái mà mình đang là…Đó có phải là niềm tin chăng ? Một niềm tin đã được thanh tẩy với thời gian để nhận ra Thiên Chúa là Đấng luôn trong tình trạng trông đợi con người “.
CHÚNG TA PHẢI CÓ THÁI ĐỘ NÀO ĐỐI VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA :
Chúa Giêsu đã nhiều lần hiện ra với thánh nữ Faustina, người Ba Lan để xin thánh nữ loan truyền Lòng Thương xót Chúa và Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chọn Chúa Nhật II Phục Sinh để tôn kính Lòng Thương Xót Chúa. Ngài đã dạy : “ Giáo Hội có quyền và nghĩa vụ phải tôn kính, loan báo, và thực hành kêu cầu lớn tiếng kêu van khóc lóc Thiên Chúa của Lòng Thương Xót Chúa…”. Mỗi người chúng ta hãy thực hành đức yêu thương bác ái như Chúa đã dạy trong Tin Mừng:” Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương “ ( Ga 15, 12 ). Hãy tín thác đời mình cho Chúa :” Lạy Chúa Giêsu, con xin tín thác vào Chúa “.
Chúng ta phải năng chạy tới với Chúa Giêsu và tín thác đời mình cho Chúa.Chúng ta phải luôn tôn kính Lòng Thương Xót Chúa.
Thực hiện được những điều vừa nêu trên, thì chắc chắn cuộc đời chúng ta sẽ hạnh phúc vì :” Chúa Giêsu nói rằng Ta đến với con trong giờ lâm chung không với tư cách Quan tòa để xét xử công minh mà đến với con như Vị Cứu Tinh nhân hậu giàu Lòng Thương Xót ‘.
Lạy Chúa Giêsu giàu Lòng Nhân Từ Thương Xót xin ban cho nhân loại ơn hiểu biết để tất cả mau mắn nhận ra Lòng Thương Xót Chúa và biết tín thác vào Chúa. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Tại sao lại gọi Chúa Giêsu đầy lòng nhân hậu ?
2.Chúa đã hiện ra với nữ thánh nào và Người đã tỏ ra Người là Thiên Chúa nào ?
3.Thánh Giáo Hoàng nào đã phong thánh cho nữ tu Faustina ?
4.Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chọn ngày Chúa Nhật nào để tôn kính Lòng Thương Xót Chúa ?
5.Nữ tu Faustina người nước nào ?
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Suy tư sau Phục Sinh
Vũ Van An
20:18 07/04/2015
Thứ Năm Tuần Thánh năm nay, cùng với việc kỷ niệm Bữa Ăn Vượt Qua, trong đó chiên đực không tì vết một tuổi được giết hiến tế, người Duy Hồi Giáo đã phát động cuộc tấn công đẫm máu vào Đại Học Garissa, Kenya, bắt đầu bắn loạn xạ vào một buổi cầu nguyện của Kitô Giáo. Sau đó, các sát thủ Duy Hồi Giáo đã bắn chết tại chỗ bất cứ sinh viên nào xưng mình là Kitô hữu, trong khi bỏ qua các sinh viên Hồi Giáo. Tổng cộng có 147 người chết trong biến cố đẫm máu này.
Đức Cha Joseph Alessandro, Giám Mục Công Giáo Garissa, cho rằng biến cố Garissa là bản sao biến cố Chúa Giêsu Kitô. Ngài nói với cộng đoàn: “Chúng ta liên kết các đau khổ của các thân nhân và nạn nhân với các đau khổ của Chúa Kitô. Các nạn nhân cũng sẽ sống lại với Chúa Kitô”.
Đó cũng là nhận định của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Trong Đường Thánh Giá tại Coliseum, 1 ngày sau đó, tức Thứ Sáu Tuần Thánh, Ngài thưa với Chúa Giêsu vác thánh giá và bị đóng đnh rằng: “Trong tình yêu của Chúa, chúng con nhìn thấy anh chị em bị bách hại của chúng con, bị chặt đầu và bị đóng đinh vì đức tin vào Chúa”.
Nhưng một số ký giả, trong đó, có John Allen, lại nhìn biến cố trên dưới khía cạnh nghịch thường của nó. Theo ký giả này, ở một số nơi, cùng với chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, không ai có chung nhiều điều hơn người Kitô hữu và người vô thần.
Tại Bangladesh, một “blogger” cực lực chống đối chủ nghĩa cực đoan tôn giáo tên Washiqur Rahman đã bị chém chết tại Dhaka bởi 2 người đàn ông dùng dao găm và dao xẻ thịt. Tiếp sau đó, là vụ sát hại “blogger” vô thần khác người Mỹ gốc Banghadesh là Avijit Roy hồi cuối tháng Hai. Roy bị hai người đàn ông dùng mã tấu sát hại.
Các tường trình từ Banghadesh quả quyết rằng trong hai năm qua, một số “blogger” vô thần khác hoặc bị sát hại hoặc bị chết trong các hoàn cảnh khó hiểu.
Cả các nạn nhân ở Kenya lẫn ở Banghadesh đều bị sát hại không những vì là những người không theo Hồi Giáo, mà còn là những loại người đặc thù không theo Hồi Giáo nữa.
Đối với những người Duy Hồi Giáo Cực Đoan hận thù Tây Phương, không có hai nhóm nào gây phẫn nộ như người Kitô Giáo và người vô thần. Người Kitô Giáo tượng trưng cho tội lỗi của Tây Phương trong quá khứ, còn người vô thần tượng trưng cho điều người Duy Hồi Giáo coi là sa đọa và bỏ đạo của Tây Phương trong hiện tại.
Ở Âu Châu và ở Bắc Mỹ, người ta có khuynh hướng cho rằng đường phân ranh văn hóa đệ nhất đẳng là giữa người cấp tiến và người bảo thủ, với các tín hữu tôn giáo thường tập trung ở một phía. Các nhà thăm dò Mỹ, chẳng hạn, hay nói rằng một yếu tố tiên đoán đáng tin cho biết ai đó bỏ phiếu cho Cộng Hòa hay cho Dân Chủ là họ có năng đi nhà thờ hay không.
Nhưng ở phần lớn các nơi khác trên thế giới, đường phân ranh không hẳn như thế. Thay vào đó, những kình chống đáng kể thường là giữa những người ủng hộ một nhà nước thế quyền và những người tìm cách áp đặt nền thần trị (theocracy) bằng vũ lực. Hồi Giáo cực đoan có khuynh hướng là ấn bản chết người nhiều nhất của chọn lựa thứ hai, nhưng chọn lựa này cũng mang các dáng dấp khác nữa, trong đó có chủ nghĩa cực đoan Phật Giáo ở Sri Lanka và Myannmar, chủ nghĩa cực đoan Ấn Giáo ở Ấn Độ…
Khi vấn đề được xét dưới khía cạnh đa nguyên và bất khoan dung, thì kết quả thường là đặt các nhóm tôn giáo thiểu số, những người không cực đoan của các tôn giáo đa số, và những người không có tín ngưỡng vào cùng một con thuyền, trong đó, người Kitô Giáo và người vô thần thường gặp nguy cơ nhiều nhất khi bất khoan dung thắng thế.
Đó chính là lý do tại sao không có tiếng nói nào trong Giáo Hội Công Giáo hùng hồn ủng hộ các nhà nước thế quyền hơn tiếng nói các giám mục Trung Đông. Với các ngài, việc tách biệt tôn giáo ra khỏi nhà nước không phải là một ý niệm lý thuyết, mà là một chiến lược sống còn.
Khi các giám mục Trung Đông họp nhau tại Rôma để dự Thượng Hội Đồng năm 2010, các ngài mạnh mẽ kêu gọi phải có “một nền dân chủ lành mạnh, có bản chất thế tục tích cực… hoàn toàn tôn trọng sự phân biệt giữa trật tự tôn giáo và trật tự dân sự”.
Cương lĩnh đó ít người vô thần nào lại không ủng hộ.
Vì những năng động tính trên, một hậu quả bất ngờ của cơn đe doạ do những người cuồng tín tôn giáo đặt ra có thể là tái hiệu chuẩn mối liên hệ giữa những người không có tín ngưỡng và những người tôn giáo ôn hoà.
Bangladesh, chẳng hạn, là một đất nước gồm 156 triệu dân mà hết 86% theo Hồi Giáo; người Kitô hữu chỉ chiếm 0.4% dân số. Nên khó có thể tưởng tượng được hai nhóm nào khác có nhiều lợi ích hơn khi lấy tư cách công dân chứ không phải việc thống thuộc tôn giáo làm căn bản cho nhân quyền bằng người Kitô Giáo và người vô thần.
Để một liên minh như thế có thể xuất hiện, mỗi bên đều phải nhượng bộ. Người không tín ngưỡng phải vượt qua ý nghĩ lầm lẫn cho rằng tôn giáo tự nó vốn là một vấn đề, để thừa nhận rằng người ta có thể vừa là người có đức tin vừa có thể dấn thân cho đa nguyên và bình đẳng. Đây không hẳn chỉ là lý thuyết, nhưng là một thực tại sống của không biết bao triệu tín hữu tôn giáo khắp thế giới.
Các tín hữu, kể cả các Kitô Hữu, phải thừa nhận rằng họ không phải là những người duy nhất chịu đau khổ. Họ cũng cần có can đảm để nói với người cực đoan rằng một xã hội thế quyền phải dành chỗ không những cho các truyền thống tôn giáo khác nhau, mà cho cả những người như Avijit Roy khắp thế giới nữa.
Nếu muốn một loại hợp tác như thế trở thành một lực lượng hoàn cầu, thì Đức Giáo Hoàng Phanxicô có thể là người có ưu thế giúp gom nó lại với nhau.
Đức Giáo Hoàng vốn đã tạo được mối liên hệ tốt đẹp với một số người vô thần, trong đó có nhà báo nổi tiếng người Ý là Eugenio Scalfari, người mà ngài vốn dành cho cuộc phỏng vấn dài vào năm ngoái và là người rất được ái mộ trong các giới thế quyền.
Không có lý do gì ngăn cản Đức Phanxicô mời những người xưa nay vốn gây nhiều ngỡ ngàng như nhà vô thần Richard Dawkins cùng tham gia với ngài trong việc kết án các vụ thảm sát ở Kenya và ờ Banghadesh và trong việc bảo vệ “một chủ nghĩa thế quyền lành mạnh” theo nghĩa tạo ra một nhà nước sẵn sàng dành chỗ cho cả tôn giáo lẫn vô tôn giáo, và không áp đặt bất cứ thứ gì trong hai thứ vừa kể.
Tuy nhiên, điều ấy có thực sự sẽ diễn ra hay không, ta chỉ có thể phỏng đoán. Điều chắc chắn hiện nay là khi các Kitô hữu mừng Lễ Phục Sinh, càng ngày số người coi người hàng xóm vô thần như bằng hữu mới mẻ càng đông hơn.
Đức Cha Joseph Alessandro, Giám Mục Công Giáo Garissa, cho rằng biến cố Garissa là bản sao biến cố Chúa Giêsu Kitô. Ngài nói với cộng đoàn: “Chúng ta liên kết các đau khổ của các thân nhân và nạn nhân với các đau khổ của Chúa Kitô. Các nạn nhân cũng sẽ sống lại với Chúa Kitô”.
Đó cũng là nhận định của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Trong Đường Thánh Giá tại Coliseum, 1 ngày sau đó, tức Thứ Sáu Tuần Thánh, Ngài thưa với Chúa Giêsu vác thánh giá và bị đóng đnh rằng: “Trong tình yêu của Chúa, chúng con nhìn thấy anh chị em bị bách hại của chúng con, bị chặt đầu và bị đóng đinh vì đức tin vào Chúa”.
Nhưng một số ký giả, trong đó, có John Allen, lại nhìn biến cố trên dưới khía cạnh nghịch thường của nó. Theo ký giả này, ở một số nơi, cùng với chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, không ai có chung nhiều điều hơn người Kitô hữu và người vô thần.
Tại Bangladesh, một “blogger” cực lực chống đối chủ nghĩa cực đoan tôn giáo tên Washiqur Rahman đã bị chém chết tại Dhaka bởi 2 người đàn ông dùng dao găm và dao xẻ thịt. Tiếp sau đó, là vụ sát hại “blogger” vô thần khác người Mỹ gốc Banghadesh là Avijit Roy hồi cuối tháng Hai. Roy bị hai người đàn ông dùng mã tấu sát hại.
Các tường trình từ Banghadesh quả quyết rằng trong hai năm qua, một số “blogger” vô thần khác hoặc bị sát hại hoặc bị chết trong các hoàn cảnh khó hiểu.
Cả các nạn nhân ở Kenya lẫn ở Banghadesh đều bị sát hại không những vì là những người không theo Hồi Giáo, mà còn là những loại người đặc thù không theo Hồi Giáo nữa.
Đối với những người Duy Hồi Giáo Cực Đoan hận thù Tây Phương, không có hai nhóm nào gây phẫn nộ như người Kitô Giáo và người vô thần. Người Kitô Giáo tượng trưng cho tội lỗi của Tây Phương trong quá khứ, còn người vô thần tượng trưng cho điều người Duy Hồi Giáo coi là sa đọa và bỏ đạo của Tây Phương trong hiện tại.
Ở Âu Châu và ở Bắc Mỹ, người ta có khuynh hướng cho rằng đường phân ranh văn hóa đệ nhất đẳng là giữa người cấp tiến và người bảo thủ, với các tín hữu tôn giáo thường tập trung ở một phía. Các nhà thăm dò Mỹ, chẳng hạn, hay nói rằng một yếu tố tiên đoán đáng tin cho biết ai đó bỏ phiếu cho Cộng Hòa hay cho Dân Chủ là họ có năng đi nhà thờ hay không.
Nhưng ở phần lớn các nơi khác trên thế giới, đường phân ranh không hẳn như thế. Thay vào đó, những kình chống đáng kể thường là giữa những người ủng hộ một nhà nước thế quyền và những người tìm cách áp đặt nền thần trị (theocracy) bằng vũ lực. Hồi Giáo cực đoan có khuynh hướng là ấn bản chết người nhiều nhất của chọn lựa thứ hai, nhưng chọn lựa này cũng mang các dáng dấp khác nữa, trong đó có chủ nghĩa cực đoan Phật Giáo ở Sri Lanka và Myannmar, chủ nghĩa cực đoan Ấn Giáo ở Ấn Độ…
Khi vấn đề được xét dưới khía cạnh đa nguyên và bất khoan dung, thì kết quả thường là đặt các nhóm tôn giáo thiểu số, những người không cực đoan của các tôn giáo đa số, và những người không có tín ngưỡng vào cùng một con thuyền, trong đó, người Kitô Giáo và người vô thần thường gặp nguy cơ nhiều nhất khi bất khoan dung thắng thế.
Đó chính là lý do tại sao không có tiếng nói nào trong Giáo Hội Công Giáo hùng hồn ủng hộ các nhà nước thế quyền hơn tiếng nói các giám mục Trung Đông. Với các ngài, việc tách biệt tôn giáo ra khỏi nhà nước không phải là một ý niệm lý thuyết, mà là một chiến lược sống còn.
Khi các giám mục Trung Đông họp nhau tại Rôma để dự Thượng Hội Đồng năm 2010, các ngài mạnh mẽ kêu gọi phải có “một nền dân chủ lành mạnh, có bản chất thế tục tích cực… hoàn toàn tôn trọng sự phân biệt giữa trật tự tôn giáo và trật tự dân sự”.
Cương lĩnh đó ít người vô thần nào lại không ủng hộ.
Vì những năng động tính trên, một hậu quả bất ngờ của cơn đe doạ do những người cuồng tín tôn giáo đặt ra có thể là tái hiệu chuẩn mối liên hệ giữa những người không có tín ngưỡng và những người tôn giáo ôn hoà.
Bangladesh, chẳng hạn, là một đất nước gồm 156 triệu dân mà hết 86% theo Hồi Giáo; người Kitô hữu chỉ chiếm 0.4% dân số. Nên khó có thể tưởng tượng được hai nhóm nào khác có nhiều lợi ích hơn khi lấy tư cách công dân chứ không phải việc thống thuộc tôn giáo làm căn bản cho nhân quyền bằng người Kitô Giáo và người vô thần.
Để một liên minh như thế có thể xuất hiện, mỗi bên đều phải nhượng bộ. Người không tín ngưỡng phải vượt qua ý nghĩ lầm lẫn cho rằng tôn giáo tự nó vốn là một vấn đề, để thừa nhận rằng người ta có thể vừa là người có đức tin vừa có thể dấn thân cho đa nguyên và bình đẳng. Đây không hẳn chỉ là lý thuyết, nhưng là một thực tại sống của không biết bao triệu tín hữu tôn giáo khắp thế giới.
Các tín hữu, kể cả các Kitô Hữu, phải thừa nhận rằng họ không phải là những người duy nhất chịu đau khổ. Họ cũng cần có can đảm để nói với người cực đoan rằng một xã hội thế quyền phải dành chỗ không những cho các truyền thống tôn giáo khác nhau, mà cho cả những người như Avijit Roy khắp thế giới nữa.
Nếu muốn một loại hợp tác như thế trở thành một lực lượng hoàn cầu, thì Đức Giáo Hoàng Phanxicô có thể là người có ưu thế giúp gom nó lại với nhau.
Đức Giáo Hoàng vốn đã tạo được mối liên hệ tốt đẹp với một số người vô thần, trong đó có nhà báo nổi tiếng người Ý là Eugenio Scalfari, người mà ngài vốn dành cho cuộc phỏng vấn dài vào năm ngoái và là người rất được ái mộ trong các giới thế quyền.
Không có lý do gì ngăn cản Đức Phanxicô mời những người xưa nay vốn gây nhiều ngỡ ngàng như nhà vô thần Richard Dawkins cùng tham gia với ngài trong việc kết án các vụ thảm sát ở Kenya và ờ Banghadesh và trong việc bảo vệ “một chủ nghĩa thế quyền lành mạnh” theo nghĩa tạo ra một nhà nước sẵn sàng dành chỗ cho cả tôn giáo lẫn vô tôn giáo, và không áp đặt bất cứ thứ gì trong hai thứ vừa kể.
Tuy nhiên, điều ấy có thực sự sẽ diễn ra hay không, ta chỉ có thể phỏng đoán. Điều chắc chắn hiện nay là khi các Kitô hữu mừng Lễ Phục Sinh, càng ngày số người coi người hàng xóm vô thần như bằng hữu mới mẻ càng đông hơn.
Nghi thức Suy Tôn Thánh Giá tại Đền Thờ Thánh Phêrô Thứ Sáu Tuần Thánh
VietCatholic Network
14:18 07/04/2015
Hôm nay Giáo Hội tưởng niệm những giây phút cuối cùng khi Chúa Giêsu tiến gần đến cái chết, khi sức sống và sức mạnh của Ngài đang cạn kiệt dần.
Bài Phúc Âm tường thuật cho chúng ta cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và một trong hai người tội phạm cùng bị đóng đinh với Ngài mà truyền thống thường gọi là người “trộm lành”, người đã hoán cải trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời. “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi nhé!”
Rồi có tiếng đáp lại của Chúa Giêsu, nhanh chóng và như một lời thì thầm: “Hôm nay anh sẽ ở với tôi trên nước Thiên Đàng”
Trong ngày đau khổ và đớn đau này, hai người bị đóng đinh ấy không nói gì khác, nhưng vài lời thốt lên từ trong cổ họng khô kiệt của họ vang dội đến ngày nay. Những lời này còn tiếp tục vang dội như một dấu chỉ của hy vọng và ơn cứu độ cho những ai đã phạm tội nhưng cũng đã tin và tín thác ngay cả trước đường biên cuối cùng của cuộc đời.
Kính thưa quý vị và anh chị em,
Đức Thánh Cha Phanxicô đang nằm phủ phục trước tiền đình Đền Thờ Thánh Phêrô. Lúc này là 5 giờ chiều ngày thứ Sáu Mùng 3 tháng Tư.
Trước sự hiện diện của gần 9 ngàn tín hữu, hơn 40 Hồng Y và 50 Giám Mục trong giáo triều Rôma, Đức Thánh Cha đang quì gối trong thinh lặng, trước khi mở đầu với lời nguyện, xin Chúa nhớ lại lòng từ bi và đoái thương, bảo vệ gia đình mà Chúa Kitô, Con Chúa, đã khai mạc mầu nhiệm vượt qua cho họ trong máu của Người.
Sau bài Thương Khó, Cha Raniero Cantalamessa, dòng Capuchino, Giảng thuyết viên tại Phủ Giáo Hoàng đã trình bày bài chia sẻ của ngài.
Ngài nói:
“ECCE HOMO!” – Đây là người!
Chúng ta vừa nghe trình thuật về Chúa Giêsu trước tòa của Philatô. Có một điểm đặc biệt trong trình thuật này mà chúng ta cần phải dừng lại để suy tư.
Bấy giờ ông Philatô truyền đem Ðức Giêsu đi và đánh đòn Người. Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. Họ đến gần và nói: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, rồi vả vào mặt Người...Vậy, Ðức Giêsu bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Philatô nói với họ: “Ðây là người! [Ecce Homo!] (Ga 19: 1-3, 5)
Trong vô số những bức tranh lấy Ecce Homo làm chủ đề, có một bức tranh đã luôn luôn gây ấn tượng cho tôi. Đó là bức tranh của một họa sĩ người miền Bắc nước Bỉ sống ở thế kỷ thứ mười sáu là Jan Mostaert. Hãy để tôi cố gắng mô tả bức tranh này. Điều đó sẽ giúp ghi một dấu ấn tốt hơn trong tâm trí của chúng ta về biến cố này, vì người nghệ sĩ đã trung thành sao chép thành tranh các sự kiện của trình thuật Phúc Âm, đặc biệt là Phúc Âm của Thánh Máccô (xem Mc 15: 16-20).
Chúa Giêsu đầu đội một mão gai. Một bó những nhánh cây đầy gai được tìm thấy trong sân, có lẽ dùng để nhóm lửa, đã cho các các binh sĩ một cơ hội để chế giễu vương quyền của Ngài. Những giọt máu chảy xuống trên khuôn mặt Ngài. Miệng Ngài mở ra một nửa, như một người đang bị khó thở. Vai Ngài khoác một áo choàng nặng và bạc thếch, giống như làm bằng thiếc hơn là bằng vải. Trên vai Chúa là những vết thương ngang dọc từ trận đòn gần đây. Hai cổ tay của Ngài bị buộc lại với nhau bằng một sợi dây thừng thô thắt hai vòng. Chúng bắt Ngài cầm một cây sậy trong tay như vương trượng, còn tay kia chúng bắt ngài cầm những nhành lá như những biểu tượng nhằm chế giễu vương quyền của Ngài. Chúa Giêsu không thể di chuyển dù chỉ một ngón tay; đây là một con người bị chà đạp xuống đến mức hoàn toàn bất lực, là nguyên mẫu của tất cả những con người trong lịch sử với bàn tay bị khóa chặt.
Khi suy niệm về cuộc thương khó, nhà triết học Blaise Pascal đã viết những lời này một ngày nào đó: “Chúa Kitô sẽ còn phải đau đớn cho đến ngày tận thế; chúng ta đừng mê ngủ trong thời gian này.” Có một ý nghĩa trong những lời này rất đúng với chính con người của Chúa Kitô, nghĩa là đúng với Đấng là đầu của nhiệm thể, chứ không chỉ đúng với các thành viên của nhiệm thể ấy. Không phải là chúng ta bỏ qua sự kiện là Chúa đã sống lại và đang sống, nhưng chính vì Ngài đã sống lại và đang sống. Nhưng thôi, chúng ta hãy bỏ qua một bên ý nghĩa khó hiểu này và thay vào đó đề cập đến một ý nghĩa rõ ràng nhất của những lời này. Chúa Giêsu sẽ còn phải đau đớn cho đến ngày tận thế trong mỗi người nam nữ đang cùng một nỗi thống khổ của Ngài. “Các ngươi đã làm cho chính Ta!” (Mt 25:40). Ngài nói những lời này không chỉ với các tín hữu đặt niềm tin nơi Người; nhưng là với mỗi người nam nữ đang đói khát, trần truồng, chịu ngược đãi, giam cầm.
Xin được một lần đừng nói chung chung về những tệ nạn xã hội: nghèo đói, bất công, và bóc lột những người yếu thế. Những tệ nạn này vẫn thường được nói đến (dù chẳng bao giờ là đủ), nhưng có nguy cơ là những tệ nạn ấy trở thành trừu tượng, thành những phạm trù chứ không phải là những con người. Thay vào đó, chúng ta hãy nghĩ đến những đau khổ của các cá nhân, những người có tên tuổi và danh tính cụ thể; hãy nói đến những nhục hình do con người quyết định đưa ra trong máu lạnh và trong sự tự nguyện để làm thương tổn những người khác, kể cả các hài nhi tại thời điểm này.
Có biết bao những trường hợp “Ecce homo” (“Đây là người!”) trên cái thế giới này! Có biết bao những tù nhân thấy mình đứng trước tình trạng tương tự như Chúa Giêsu trước tòa Philatô: cô đơn, tay bị còng, bị tra tấn, chỉ còn biết trông đợi nơi lòng thương xót của đám quân lính thô bạo đầy thù hận là những kẻ tham gia vào tất cả các loại tàn ác về thể chất và tâm lý và là những kẻ thích thú trước những đau khổ của người khác. “Chúng ta đừng mê ngủ; chúng ta đừng bỏ họ một mình!”
Tiếng hô “Ecce homo!” áp dụng không chỉ cho các nạn nhân nhưng còn cho những kẻ tra tấn. Nó có nghĩa là, “Đây là những gì con người có thể làm được!” Với sự sợ hãi và run rẩy, chúng ta cũng hãy nói, “Đây là những gì nhân loại có thể làm được!” Chúng ta đã tiến được bao xa trong cuộc diễn hành tiến về phía trước không thể ngăn cản được, so với homo sapiens sapiens (con người hiện đại thời Khai Sáng), so với loại người, mà một số người nào đó cho rằng đã được sinh ra từ cái chết của Thượng Đế để thay thế cho Ngài!
* * *
Kitô hữu tất nhiên không phải là những nạn nhân duy nhất của bạo lực giết người trên thế giới, nhưng chúng ta không thể bỏ qua sự kiện là tại nhiều quốc gia, họ là những nạn nhân chịu đau khổ thường xuyên nhất. Và ngày hôm nay có tin tức là 147 Kitô hữu đã bị tàn sát trong cơn cuồng nộ của những kẻ thánh chiến Hồi Giáo cực đoan Somali tại một trường đại học ở Kenya. Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ của Ngài, “Sẽ đến giờ những kẻ giết anh em cũng tưởng đó là phụng thờ Thiên Chúa.” (Ga 16:2) Có lẽ từ trước đến nay chưa bao giờ những lời này được thực hiện chính xác đến thế như trong thời đại chúng ta ngày nay.
Một giám mục sống ở thành Alexandria vào thế kỷ thứ ba là Dionysius đã để lại cho chúng ta một chứng tá về hoàn cảnh cử hành lễ Phục sinh của các tín hữu Kitô trong các cuộc bách hại khốc liệt bởi đại đế La Mã Decius:
Đầu tiên chúng tôi bị chỉ định nơi cư trú, và bị bao vây bởi những kẻ bắt bớ và giết người, nhưng chúng tôi vẫn là những người duy nhất giữ ngày lễ này thậm chí sau khi đã bị cô lập như vậy. Mỗi nơi mà chúng tôi bị tấn công đã trở thành một địa điểm mừng lễ dù là ở cánh đồng, sa mạc, trên tàu, trong các nhà trọ, hay nhà tù. Ngày lễ huy hoàng nhất trong tất cả các ngày lễ này được giữ bởi các vị tử đạo, những người giờ đây đang mừng lễ này trên thiên quốc.
Đây cũng là tình cảnh mà nhiều Kitô hữu mừng lễ Phục Sinh năm nay, năm 2015 sau Chúa Giáng Sinh.
Có những người, trên báo chí thế tục, có can đảm tố cáo sự thờ ơ đáng lo ngại của các tổ chức và dư luận trên thế giới trước những sự giết chóc các Kitô hữu này, trong khi gợi nhớ đến những sự thờ ơ như thế trong quá khứ. Tất cả chúng ta và tất cả các tổ chức của chúng ta ở phương Tây có nguy cơ trở thành những Philatô đang rửa tay [trước máu người vô tội].
Tuy nhiên, chúng ta lại không được phép đưa ra bất cứ tố cáo nào ngày hôm nay. Chúng ta sẽ phản bội mầu nhiệm đang được cử hành. Chúa Giêsu trong giờ hấp hối, đã kêu lên “Lạy Cha, xin tha cho chúng; vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23:34). Lời cầu nguyện này không chỉ là lời thì thầm trong hơi thở của Ngài; nó còn là tiếng kêu to lên để mọi người có thể nghe rõ. Đó cũng chẳng phải là một lời cầu nguyện; đó là một yêu cầu quyết liệt được đưa ra trong cương vị của người Con: “Lạy Cha, xin tha cho chúng” và vì chính Chúa đã từng cho biết là Chúa Cha luôn nhậm lời cầu nguyện của Ngài (xem Ga 11:42), chúng ta phải tin rằng Chúa Cha đã nghe lời cầu nguyện cuối cùng này từ cây thánh giá và do đó những kẻ đã đóng đinh Chúa Kitô vào thánh giá đã được Thiên Chúa tha thứ (tất nhiên là với một lòng ăn năn cách nào đó) và được ở với Ngài trên thiên đường, để làm chứng muôn đời cho thấy tình yêu của Thiên Chúa có khả năng đi xa đến mức nào.
Sự thiếu hiểu biết như thế vốn tồn tại một cách đặc biệt trong đám lính tráng. Nhưng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu không chỉ dành riêng cho họ. Sự hùng vĩ thánh thiêng trong sự tha thứ của Ngài bao gồm cả sự kiện là nó cũng được trao ban cho những kẻ thù tàn nhẫn nhất của Ngài. Lý do thiếu hiểu biết được đưa ra chính xác là dành cho họ. Mặc dù họ đã hành động đầy xảo quyệt và ranh ma, nhưng trong thực tế, họ không biết những gì họ đang làm; họ không nghĩ rằng họ đã đóng đinh vào thập giá một người đàn ông thực sự là Đấng Thiên Sai và là Con Thiên Chúa! Thay vì cáo buộc đối thủ của mình, hoặc tha cho họ và ủy thác nhiệm vụ trả thù cho Cha trên trời của mình, Ngài đã đứng ra bảo vệ họ.
Ngài đưa ra cho các môn đệ của mình một ví dụ về sự rộng lượng vô hạn. Để tha thứ với cùng một sự vĩ đại trong tâm hồn như thế không chỉ đòi hỏi một thái độ tiêu cực trong đó ta từ bỏ ao ước muốn thấy kẻ ác gặp ác; nhưng còn phải được biến đổi xa hơn thành một ý chí tích cực là làm điều thiện cho họ, thậm chí cho dù đó chỉ là một lời cầu nguyện với Thiên Chúa nhân danh họ. “Hãy cầu nguyện cho những người bắt bớ anh em” (Mt 5:44). Kiểu tha thứ này không tìm sự hả dạ trong hy vọng nơi sự trừng phạt của Thiên Chúa. Nó phải được linh hứng từ một lòng bác ái tha cho kẻ lân cận, tuy nhiên, không nhắm mắt lại với sự thật nhưng trái lại là phải mở mắt ra để ngăn chặn kẻ gian ngõ hầu họ sẽ không gây hại thêm cho người khác và cho chính họ.
Chúng ta có thể muốn nói rằng “Lạy Chúa, Chúa yêu cầu chúng con phải làm những điều không thể!” Ngài sẽ trả lời, “Ta biết, nhưng Ta đã chết để ban cho anh em những gì Ta yêu cầu anh em. Ta không chỉ truyền cho anh em phải tha thứ và không chỉ đưa ra cho anh em một tấm gương anh hùng về sự tha thứ, nhưng qua cái chết của Ta, Ta cũng mang lại cho anh em những ân sủng để anh em có thể thứ tha. Ta không chỉ ban cho thế giới giáo huấn về lòng thương xót như nhiều người khác đã từng làm. Ta cũng là Chúa và Ta đổ ra cho anh em những con sông của lòng thương xót qua cái chết của Ta. Từ đó, anh em có thể kín múc lòng thương xót bao nhiêu cũng được trong Năm Thánh Từ Bi sắp tới”.
***
Ai đó có thể nói, “Nếu thế thì chẳng lẽ theo Chúa Kitô luôn luôn có nghĩa là từ bỏ chính mình một cách thụ động để bị đánh bại và bị giết chết hay sao?” Không, trái ngược lại! Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài: “Hãy vui lên” trước khi bước vào cuộc thương khó của Ngài: “Ta đã chiến thắng thế gian” (Ga 16:33). Chúa Kitô đã chiến thắng thế gian bằng cách vượt qua sự gian ác của thế giới này. Chiến thắng cuối cùng của cái thiện trước cái ác đó sẽ được thể hiện vào cuối thời điểm đã đến, chính thức và thực tế, trên thánh giá của Chúa Kitô. Ngài nói “Bây giờ là giờ Phán xét của thế giới này” (Ga 12:31). Từ ngày đó, sự ác đang thua dần, và nó đang thua nhiều hơn khi xem ra nó đang có vẻ thắng nhiều hơn. Nó đã bị xét xử và kết án trong những biểu hiện cuối cùng của nó với một bản án không thể nào kháng cáo.
Chúa Giêsu đã vượt qua bạo lực không phải với bạo lực lớn hơn nhưng bằng cách chịu đựng nó và phơi bày tất cả sự bất công và vô vọng của nó. Ngài khai mở một loại chiến thắng mới đã được Thánh Augustinô tóm gọn trong ba chữ: “Victor quia victima” (Chiến thắng vì là nạn nhân). Chính vì thấy Ngài chết như thế mà viên đội trưởng La Mã đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa!” (Mc 15:39). Những người khác hỏi nhau xem những “tiếng kêu lớn” từ Chúa Giêsu đang hấp hối có nghĩa là gì (xem Mc 15:37). Viên đội trưởng La Mã, là một chuyên gia về những chiến binh và những trận đánh, nhận ra ngay lập tức đó là một tiếng kêu của chiến thắng.
Những vấn đề bạo lực làm chúng ta quan ngại, sửng sốt, và ngày nay nó đã phát minh ra những hình thái mới hơn và khủng khiếp hơn của sự tàn bạo và man rợ. Kitô hữu chúng ta đang kinh hãi với ý tưởng trong đó người ta có thể giết người nhân danh Thiên Chúa. Tuy nhiên, một người nào đó có thể phản đối “Nhưng không phải là Kinh Thánh cũng đầy những câu chuyện bạo lực đó sao? Không phải là Thiên Chúa được gọi là 'Chúa các đạo binh' sao? Không phải Chúa đã từng lên án toàn bộ một thành phố phải bị tiêu diệt sao? Không phải là chính Người đã quy định bao nhiêu những trường hợp phải tử hình trong Luật Môsê đó sao?”
Nếu họ đã đưa ra những phản đối này với Chúa Giêsu trong cuộc đời Ngài, chắc chắn Ngài sẽ đáp lại như những gì Ngài đã nói về ly dị: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không thế đâu.” (Mt 19: 8). Điều này cũng đúng đối với bạo lực: “Lúc đầu nó không phải như vậy.” Chương đầu tiên của Sách Sáng Thế trình bày một thế giới nơi mà bạo lực giữa con người với nhau hay giữa con người và các loài động vật không hề có, thậm chí cả trong trí tưởng tượng. Không được phép giết người ngay cả là để trả thù cho cái chết của Abel, và qua đó trừng phạt một kẻ giết người (xem Sáng Thế 4:15).
Ý định thực sự của Thiên Chúa được thể hiện nơi điều răn “Chớ giết người” hơn là nơi những ngoại lệ đối với lệnh truyền đó trong luật pháp, là một sự nhượng bộ trước “sự cứng lòng” và trước những thực hành của con người. Bạo lực, cùng với tội lỗi, là một phần đáng tiếc trong đời sống, và Cựu Ước, trong đó phản ảnh đời sống và phải là hữu ích cho đời sống như nó đang xảy ra, đã tìm hiểu các luật lệ và hình phạt tử hình ít nhất là để cô lập và ngăn chặn không để cho bạo lực biến thành một lựa chọn cá nhân để rồi mọi người xâu xé lẫn nhau.
Thánh Phaolô đề cập đến một khoảng thời gian được đặc trưng bởi “sự nhẫn nại” của Thiên Chúa (Rm 3:25). Thiên Chúa nhẫn nại trước bạo lực như Ngài nhẫn nại trước tình trạng đa thê, ly dị, và những thứ khác, nhưng Ngài đang chuẩn bị dân Ngài cho một thời gian trong đó hoạch định nguyên thủy của Người cho nhân loại được “tái lập” và được phục hồi trong danh dự, như thể thông qua một sáng tạo mới. Thời ấy đã đến với Chúa Giêsu, Đấng đã công bố trên núi, “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái nữa... Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5: 38-39, 43-44).
“Bài Giảng Trên Núi” thực sự thay đổi lịch sử, tuy nhiên, không phải là bài giảng đã được đưa ra trên một ngọn đồi ở Galilê, nhưng là bài giảng giờ đây được công bố lặng lẽ từ trên thánh giá. Trên đồi Canvê, Chúa Kitô đưa ra một tiếng nói “không” dứt khoát với bạo lực, đặt đối lập với nó không chỉ là bất bạo động, nhưng còn là sự tha thứ, hiền lành, và tình yêu. Mặc dù bạo lực vẫn sẽ tiếp tục tồn tại, nó sẽ không còn có thể được liên kết dù là xa xôi đi chăng nữa với Thiên Chúa và không thể núp dưới quyền năng của Ngài. Làm như thế là làm cho khái niệm về Thiên Chúa suy thoái ngược lại vào những thời kỳ sơ khai và thô thiển trong một lịch sử đã được vượt qua bởi lương tâm tôn giáo và văn minh của nhân loại.
* * *
Những vị tử đạo chân chính vì Chúa Kitô không chết với bàn tay nắm chặt nhưng với bàn tay chắp lại trong lời cầu nguyện. Chúng ta đã có nhiều ví dụ gần đây về điều này. Chúa Kitô là Đấng đã ban cho 21 Kitô hữu Coptic bị quân khủng bố Hồi Giáo IS chặt đầu tại Libya hôm 22 tháng 2 sức mạnh để chết trong khi thì thầm kêu tên Chúa Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con cầu nguyện cho những anh chị em trong đức tin của chúng con đang bị đàn áp và cho tất cả những con người là những Ecce Homo trên mặt đất này tại thời điểm hiện nay, là Kitô hữu cũng như những người không phải là Kitô hữu.
Lạy Mẹ Maria, dưới chân thập giá, Mẹ kết hiệp với Con của Mẹ, và Mẹ thì thầm theo Ngài, “Lạy Cha, xin tha cho chúng!” Xin hãy giúp chúng con chiến thắng sự ác bằng điều thiện, không chỉ trên trường thế giới nhưng cả trong cuộc sống hàng ngày của chúng con, bên trong các bức tường ngôi nhà của chúng con. Mẹ đã chia sẻ những đau khổ của Người khi Người chết trên thánh giá. Như vậy, một cách rất đặc biệt, Mẹ đồng công cứu chuộc bằng sự vâng phục của Mẹ, niềm tin, hy vọng và lòng bác ái bừng cháy. Xin Mẹ linh hứng cho những người nam nữ trong thời đại chúng con với những ý nghĩ hòa bình và lòng thương xót. Và với sự tha thứ. Amen.
Lễ nghi được tiếp nối với 10 lời nguyện cho các nhu cầu của Công Giáo và mọi thành phần trong nhân loại. Kế đến là nghi thức tôn thờ Thánh Giá và phần hiệp lễ.
Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là một Thánh Lễ, do đó Thánh Thể không được thánh hiến. Tuy nhiên, Mình Thánh Chúa đã được trao cho các tín hữu bởi hàng chục linh mục. Sau khi Đức Giáo Hoàng đọc lời chúc bình an, phụng vụ đã kết thúc trong im lặng theo như là truyền thống Phụng Vụ của Giáo Hội trong ngày thứ Năm và thứ Sáu Tuần Thánh.
Bài Phúc Âm tường thuật cho chúng ta cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và một trong hai người tội phạm cùng bị đóng đinh với Ngài mà truyền thống thường gọi là người “trộm lành”, người đã hoán cải trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời. “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi nhé!”
Rồi có tiếng đáp lại của Chúa Giêsu, nhanh chóng và như một lời thì thầm: “Hôm nay anh sẽ ở với tôi trên nước Thiên Đàng”
Trong ngày đau khổ và đớn đau này, hai người bị đóng đinh ấy không nói gì khác, nhưng vài lời thốt lên từ trong cổ họng khô kiệt của họ vang dội đến ngày nay. Những lời này còn tiếp tục vang dội như một dấu chỉ của hy vọng và ơn cứu độ cho những ai đã phạm tội nhưng cũng đã tin và tín thác ngay cả trước đường biên cuối cùng của cuộc đời.
Kính thưa quý vị và anh chị em,
Đức Thánh Cha Phanxicô đang nằm phủ phục trước tiền đình Đền Thờ Thánh Phêrô. Lúc này là 5 giờ chiều ngày thứ Sáu Mùng 3 tháng Tư.
Trước sự hiện diện của gần 9 ngàn tín hữu, hơn 40 Hồng Y và 50 Giám Mục trong giáo triều Rôma, Đức Thánh Cha đang quì gối trong thinh lặng, trước khi mở đầu với lời nguyện, xin Chúa nhớ lại lòng từ bi và đoái thương, bảo vệ gia đình mà Chúa Kitô, Con Chúa, đã khai mạc mầu nhiệm vượt qua cho họ trong máu của Người.
Sau bài Thương Khó, Cha Raniero Cantalamessa, dòng Capuchino, Giảng thuyết viên tại Phủ Giáo Hoàng đã trình bày bài chia sẻ của ngài.
Ngài nói:
“ECCE HOMO!” – Đây là người!
Chúng ta vừa nghe trình thuật về Chúa Giêsu trước tòa của Philatô. Có một điểm đặc biệt trong trình thuật này mà chúng ta cần phải dừng lại để suy tư.
Bấy giờ ông Philatô truyền đem Ðức Giêsu đi và đánh đòn Người. Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. Họ đến gần và nói: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, rồi vả vào mặt Người...Vậy, Ðức Giêsu bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Philatô nói với họ: “Ðây là người! [Ecce Homo!] (Ga 19: 1-3, 5)
Trong vô số những bức tranh lấy Ecce Homo làm chủ đề, có một bức tranh đã luôn luôn gây ấn tượng cho tôi. Đó là bức tranh của một họa sĩ người miền Bắc nước Bỉ sống ở thế kỷ thứ mười sáu là Jan Mostaert. Hãy để tôi cố gắng mô tả bức tranh này. Điều đó sẽ giúp ghi một dấu ấn tốt hơn trong tâm trí của chúng ta về biến cố này, vì người nghệ sĩ đã trung thành sao chép thành tranh các sự kiện của trình thuật Phúc Âm, đặc biệt là Phúc Âm của Thánh Máccô (xem Mc 15: 16-20).
Chúa Giêsu đầu đội một mão gai. Một bó những nhánh cây đầy gai được tìm thấy trong sân, có lẽ dùng để nhóm lửa, đã cho các các binh sĩ một cơ hội để chế giễu vương quyền của Ngài. Những giọt máu chảy xuống trên khuôn mặt Ngài. Miệng Ngài mở ra một nửa, như một người đang bị khó thở. Vai Ngài khoác một áo choàng nặng và bạc thếch, giống như làm bằng thiếc hơn là bằng vải. Trên vai Chúa là những vết thương ngang dọc từ trận đòn gần đây. Hai cổ tay của Ngài bị buộc lại với nhau bằng một sợi dây thừng thô thắt hai vòng. Chúng bắt Ngài cầm một cây sậy trong tay như vương trượng, còn tay kia chúng bắt ngài cầm những nhành lá như những biểu tượng nhằm chế giễu vương quyền của Ngài. Chúa Giêsu không thể di chuyển dù chỉ một ngón tay; đây là một con người bị chà đạp xuống đến mức hoàn toàn bất lực, là nguyên mẫu của tất cả những con người trong lịch sử với bàn tay bị khóa chặt.
Khi suy niệm về cuộc thương khó, nhà triết học Blaise Pascal đã viết những lời này một ngày nào đó: “Chúa Kitô sẽ còn phải đau đớn cho đến ngày tận thế; chúng ta đừng mê ngủ trong thời gian này.” Có một ý nghĩa trong những lời này rất đúng với chính con người của Chúa Kitô, nghĩa là đúng với Đấng là đầu của nhiệm thể, chứ không chỉ đúng với các thành viên của nhiệm thể ấy. Không phải là chúng ta bỏ qua sự kiện là Chúa đã sống lại và đang sống, nhưng chính vì Ngài đã sống lại và đang sống. Nhưng thôi, chúng ta hãy bỏ qua một bên ý nghĩa khó hiểu này và thay vào đó đề cập đến một ý nghĩa rõ ràng nhất của những lời này. Chúa Giêsu sẽ còn phải đau đớn cho đến ngày tận thế trong mỗi người nam nữ đang cùng một nỗi thống khổ của Ngài. “Các ngươi đã làm cho chính Ta!” (Mt 25:40). Ngài nói những lời này không chỉ với các tín hữu đặt niềm tin nơi Người; nhưng là với mỗi người nam nữ đang đói khát, trần truồng, chịu ngược đãi, giam cầm.
Xin được một lần đừng nói chung chung về những tệ nạn xã hội: nghèo đói, bất công, và bóc lột những người yếu thế. Những tệ nạn này vẫn thường được nói đến (dù chẳng bao giờ là đủ), nhưng có nguy cơ là những tệ nạn ấy trở thành trừu tượng, thành những phạm trù chứ không phải là những con người. Thay vào đó, chúng ta hãy nghĩ đến những đau khổ của các cá nhân, những người có tên tuổi và danh tính cụ thể; hãy nói đến những nhục hình do con người quyết định đưa ra trong máu lạnh và trong sự tự nguyện để làm thương tổn những người khác, kể cả các hài nhi tại thời điểm này.
Có biết bao những trường hợp “Ecce homo” (“Đây là người!”) trên cái thế giới này! Có biết bao những tù nhân thấy mình đứng trước tình trạng tương tự như Chúa Giêsu trước tòa Philatô: cô đơn, tay bị còng, bị tra tấn, chỉ còn biết trông đợi nơi lòng thương xót của đám quân lính thô bạo đầy thù hận là những kẻ tham gia vào tất cả các loại tàn ác về thể chất và tâm lý và là những kẻ thích thú trước những đau khổ của người khác. “Chúng ta đừng mê ngủ; chúng ta đừng bỏ họ một mình!”
Tiếng hô “Ecce homo!” áp dụng không chỉ cho các nạn nhân nhưng còn cho những kẻ tra tấn. Nó có nghĩa là, “Đây là những gì con người có thể làm được!” Với sự sợ hãi và run rẩy, chúng ta cũng hãy nói, “Đây là những gì nhân loại có thể làm được!” Chúng ta đã tiến được bao xa trong cuộc diễn hành tiến về phía trước không thể ngăn cản được, so với homo sapiens sapiens (con người hiện đại thời Khai Sáng), so với loại người, mà một số người nào đó cho rằng đã được sinh ra từ cái chết của Thượng Đế để thay thế cho Ngài!
* * *
Kitô hữu tất nhiên không phải là những nạn nhân duy nhất của bạo lực giết người trên thế giới, nhưng chúng ta không thể bỏ qua sự kiện là tại nhiều quốc gia, họ là những nạn nhân chịu đau khổ thường xuyên nhất. Và ngày hôm nay có tin tức là 147 Kitô hữu đã bị tàn sát trong cơn cuồng nộ của những kẻ thánh chiến Hồi Giáo cực đoan Somali tại một trường đại học ở Kenya. Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ của Ngài, “Sẽ đến giờ những kẻ giết anh em cũng tưởng đó là phụng thờ Thiên Chúa.” (Ga 16:2) Có lẽ từ trước đến nay chưa bao giờ những lời này được thực hiện chính xác đến thế như trong thời đại chúng ta ngày nay.
Một giám mục sống ở thành Alexandria vào thế kỷ thứ ba là Dionysius đã để lại cho chúng ta một chứng tá về hoàn cảnh cử hành lễ Phục sinh của các tín hữu Kitô trong các cuộc bách hại khốc liệt bởi đại đế La Mã Decius:
Đầu tiên chúng tôi bị chỉ định nơi cư trú, và bị bao vây bởi những kẻ bắt bớ và giết người, nhưng chúng tôi vẫn là những người duy nhất giữ ngày lễ này thậm chí sau khi đã bị cô lập như vậy. Mỗi nơi mà chúng tôi bị tấn công đã trở thành một địa điểm mừng lễ dù là ở cánh đồng, sa mạc, trên tàu, trong các nhà trọ, hay nhà tù. Ngày lễ huy hoàng nhất trong tất cả các ngày lễ này được giữ bởi các vị tử đạo, những người giờ đây đang mừng lễ này trên thiên quốc.
Đây cũng là tình cảnh mà nhiều Kitô hữu mừng lễ Phục Sinh năm nay, năm 2015 sau Chúa Giáng Sinh.
Có những người, trên báo chí thế tục, có can đảm tố cáo sự thờ ơ đáng lo ngại của các tổ chức và dư luận trên thế giới trước những sự giết chóc các Kitô hữu này, trong khi gợi nhớ đến những sự thờ ơ như thế trong quá khứ. Tất cả chúng ta và tất cả các tổ chức của chúng ta ở phương Tây có nguy cơ trở thành những Philatô đang rửa tay [trước máu người vô tội].
Tuy nhiên, chúng ta lại không được phép đưa ra bất cứ tố cáo nào ngày hôm nay. Chúng ta sẽ phản bội mầu nhiệm đang được cử hành. Chúa Giêsu trong giờ hấp hối, đã kêu lên “Lạy Cha, xin tha cho chúng; vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23:34). Lời cầu nguyện này không chỉ là lời thì thầm trong hơi thở của Ngài; nó còn là tiếng kêu to lên để mọi người có thể nghe rõ. Đó cũng chẳng phải là một lời cầu nguyện; đó là một yêu cầu quyết liệt được đưa ra trong cương vị của người Con: “Lạy Cha, xin tha cho chúng” và vì chính Chúa đã từng cho biết là Chúa Cha luôn nhậm lời cầu nguyện của Ngài (xem Ga 11:42), chúng ta phải tin rằng Chúa Cha đã nghe lời cầu nguyện cuối cùng này từ cây thánh giá và do đó những kẻ đã đóng đinh Chúa Kitô vào thánh giá đã được Thiên Chúa tha thứ (tất nhiên là với một lòng ăn năn cách nào đó) và được ở với Ngài trên thiên đường, để làm chứng muôn đời cho thấy tình yêu của Thiên Chúa có khả năng đi xa đến mức nào.
Sự thiếu hiểu biết như thế vốn tồn tại một cách đặc biệt trong đám lính tráng. Nhưng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu không chỉ dành riêng cho họ. Sự hùng vĩ thánh thiêng trong sự tha thứ của Ngài bao gồm cả sự kiện là nó cũng được trao ban cho những kẻ thù tàn nhẫn nhất của Ngài. Lý do thiếu hiểu biết được đưa ra chính xác là dành cho họ. Mặc dù họ đã hành động đầy xảo quyệt và ranh ma, nhưng trong thực tế, họ không biết những gì họ đang làm; họ không nghĩ rằng họ đã đóng đinh vào thập giá một người đàn ông thực sự là Đấng Thiên Sai và là Con Thiên Chúa! Thay vì cáo buộc đối thủ của mình, hoặc tha cho họ và ủy thác nhiệm vụ trả thù cho Cha trên trời của mình, Ngài đã đứng ra bảo vệ họ.
Ngài đưa ra cho các môn đệ của mình một ví dụ về sự rộng lượng vô hạn. Để tha thứ với cùng một sự vĩ đại trong tâm hồn như thế không chỉ đòi hỏi một thái độ tiêu cực trong đó ta từ bỏ ao ước muốn thấy kẻ ác gặp ác; nhưng còn phải được biến đổi xa hơn thành một ý chí tích cực là làm điều thiện cho họ, thậm chí cho dù đó chỉ là một lời cầu nguyện với Thiên Chúa nhân danh họ. “Hãy cầu nguyện cho những người bắt bớ anh em” (Mt 5:44). Kiểu tha thứ này không tìm sự hả dạ trong hy vọng nơi sự trừng phạt của Thiên Chúa. Nó phải được linh hứng từ một lòng bác ái tha cho kẻ lân cận, tuy nhiên, không nhắm mắt lại với sự thật nhưng trái lại là phải mở mắt ra để ngăn chặn kẻ gian ngõ hầu họ sẽ không gây hại thêm cho người khác và cho chính họ.
Chúng ta có thể muốn nói rằng “Lạy Chúa, Chúa yêu cầu chúng con phải làm những điều không thể!” Ngài sẽ trả lời, “Ta biết, nhưng Ta đã chết để ban cho anh em những gì Ta yêu cầu anh em. Ta không chỉ truyền cho anh em phải tha thứ và không chỉ đưa ra cho anh em một tấm gương anh hùng về sự tha thứ, nhưng qua cái chết của Ta, Ta cũng mang lại cho anh em những ân sủng để anh em có thể thứ tha. Ta không chỉ ban cho thế giới giáo huấn về lòng thương xót như nhiều người khác đã từng làm. Ta cũng là Chúa và Ta đổ ra cho anh em những con sông của lòng thương xót qua cái chết của Ta. Từ đó, anh em có thể kín múc lòng thương xót bao nhiêu cũng được trong Năm Thánh Từ Bi sắp tới”.
***
Ai đó có thể nói, “Nếu thế thì chẳng lẽ theo Chúa Kitô luôn luôn có nghĩa là từ bỏ chính mình một cách thụ động để bị đánh bại và bị giết chết hay sao?” Không, trái ngược lại! Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài: “Hãy vui lên” trước khi bước vào cuộc thương khó của Ngài: “Ta đã chiến thắng thế gian” (Ga 16:33). Chúa Kitô đã chiến thắng thế gian bằng cách vượt qua sự gian ác của thế giới này. Chiến thắng cuối cùng của cái thiện trước cái ác đó sẽ được thể hiện vào cuối thời điểm đã đến, chính thức và thực tế, trên thánh giá của Chúa Kitô. Ngài nói “Bây giờ là giờ Phán xét của thế giới này” (Ga 12:31). Từ ngày đó, sự ác đang thua dần, và nó đang thua nhiều hơn khi xem ra nó đang có vẻ thắng nhiều hơn. Nó đã bị xét xử và kết án trong những biểu hiện cuối cùng của nó với một bản án không thể nào kháng cáo.
Chúa Giêsu đã vượt qua bạo lực không phải với bạo lực lớn hơn nhưng bằng cách chịu đựng nó và phơi bày tất cả sự bất công và vô vọng của nó. Ngài khai mở một loại chiến thắng mới đã được Thánh Augustinô tóm gọn trong ba chữ: “Victor quia victima” (Chiến thắng vì là nạn nhân). Chính vì thấy Ngài chết như thế mà viên đội trưởng La Mã đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa!” (Mc 15:39). Những người khác hỏi nhau xem những “tiếng kêu lớn” từ Chúa Giêsu đang hấp hối có nghĩa là gì (xem Mc 15:37). Viên đội trưởng La Mã, là một chuyên gia về những chiến binh và những trận đánh, nhận ra ngay lập tức đó là một tiếng kêu của chiến thắng.
Những vấn đề bạo lực làm chúng ta quan ngại, sửng sốt, và ngày nay nó đã phát minh ra những hình thái mới hơn và khủng khiếp hơn của sự tàn bạo và man rợ. Kitô hữu chúng ta đang kinh hãi với ý tưởng trong đó người ta có thể giết người nhân danh Thiên Chúa. Tuy nhiên, một người nào đó có thể phản đối “Nhưng không phải là Kinh Thánh cũng đầy những câu chuyện bạo lực đó sao? Không phải là Thiên Chúa được gọi là 'Chúa các đạo binh' sao? Không phải Chúa đã từng lên án toàn bộ một thành phố phải bị tiêu diệt sao? Không phải là chính Người đã quy định bao nhiêu những trường hợp phải tử hình trong Luật Môsê đó sao?”
Nếu họ đã đưa ra những phản đối này với Chúa Giêsu trong cuộc đời Ngài, chắc chắn Ngài sẽ đáp lại như những gì Ngài đã nói về ly dị: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không thế đâu.” (Mt 19: 8). Điều này cũng đúng đối với bạo lực: “Lúc đầu nó không phải như vậy.” Chương đầu tiên của Sách Sáng Thế trình bày một thế giới nơi mà bạo lực giữa con người với nhau hay giữa con người và các loài động vật không hề có, thậm chí cả trong trí tưởng tượng. Không được phép giết người ngay cả là để trả thù cho cái chết của Abel, và qua đó trừng phạt một kẻ giết người (xem Sáng Thế 4:15).
Ý định thực sự của Thiên Chúa được thể hiện nơi điều răn “Chớ giết người” hơn là nơi những ngoại lệ đối với lệnh truyền đó trong luật pháp, là một sự nhượng bộ trước “sự cứng lòng” và trước những thực hành của con người. Bạo lực, cùng với tội lỗi, là một phần đáng tiếc trong đời sống, và Cựu Ước, trong đó phản ảnh đời sống và phải là hữu ích cho đời sống như nó đang xảy ra, đã tìm hiểu các luật lệ và hình phạt tử hình ít nhất là để cô lập và ngăn chặn không để cho bạo lực biến thành một lựa chọn cá nhân để rồi mọi người xâu xé lẫn nhau.
Thánh Phaolô đề cập đến một khoảng thời gian được đặc trưng bởi “sự nhẫn nại” của Thiên Chúa (Rm 3:25). Thiên Chúa nhẫn nại trước bạo lực như Ngài nhẫn nại trước tình trạng đa thê, ly dị, và những thứ khác, nhưng Ngài đang chuẩn bị dân Ngài cho một thời gian trong đó hoạch định nguyên thủy của Người cho nhân loại được “tái lập” và được phục hồi trong danh dự, như thể thông qua một sáng tạo mới. Thời ấy đã đến với Chúa Giêsu, Đấng đã công bố trên núi, “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái nữa... Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5: 38-39, 43-44).
“Bài Giảng Trên Núi” thực sự thay đổi lịch sử, tuy nhiên, không phải là bài giảng đã được đưa ra trên một ngọn đồi ở Galilê, nhưng là bài giảng giờ đây được công bố lặng lẽ từ trên thánh giá. Trên đồi Canvê, Chúa Kitô đưa ra một tiếng nói “không” dứt khoát với bạo lực, đặt đối lập với nó không chỉ là bất bạo động, nhưng còn là sự tha thứ, hiền lành, và tình yêu. Mặc dù bạo lực vẫn sẽ tiếp tục tồn tại, nó sẽ không còn có thể được liên kết dù là xa xôi đi chăng nữa với Thiên Chúa và không thể núp dưới quyền năng của Ngài. Làm như thế là làm cho khái niệm về Thiên Chúa suy thoái ngược lại vào những thời kỳ sơ khai và thô thiển trong một lịch sử đã được vượt qua bởi lương tâm tôn giáo và văn minh của nhân loại.
* * *
Những vị tử đạo chân chính vì Chúa Kitô không chết với bàn tay nắm chặt nhưng với bàn tay chắp lại trong lời cầu nguyện. Chúng ta đã có nhiều ví dụ gần đây về điều này. Chúa Kitô là Đấng đã ban cho 21 Kitô hữu Coptic bị quân khủng bố Hồi Giáo IS chặt đầu tại Libya hôm 22 tháng 2 sức mạnh để chết trong khi thì thầm kêu tên Chúa Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con cầu nguyện cho những anh chị em trong đức tin của chúng con đang bị đàn áp và cho tất cả những con người là những Ecce Homo trên mặt đất này tại thời điểm hiện nay, là Kitô hữu cũng như những người không phải là Kitô hữu.
Lạy Mẹ Maria, dưới chân thập giá, Mẹ kết hiệp với Con của Mẹ, và Mẹ thì thầm theo Ngài, “Lạy Cha, xin tha cho chúng!” Xin hãy giúp chúng con chiến thắng sự ác bằng điều thiện, không chỉ trên trường thế giới nhưng cả trong cuộc sống hàng ngày của chúng con, bên trong các bức tường ngôi nhà của chúng con. Mẹ đã chia sẻ những đau khổ của Người khi Người chết trên thánh giá. Như vậy, một cách rất đặc biệt, Mẹ đồng công cứu chuộc bằng sự vâng phục của Mẹ, niềm tin, hy vọng và lòng bác ái bừng cháy. Xin Mẹ linh hứng cho những người nam nữ trong thời đại chúng con với những ý nghĩ hòa bình và lòng thương xót. Và với sự tha thứ. Amen.
Lễ nghi được tiếp nối với 10 lời nguyện cho các nhu cầu của Công Giáo và mọi thành phần trong nhân loại. Kế đến là nghi thức tôn thờ Thánh Giá và phần hiệp lễ.
Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là một Thánh Lễ, do đó Thánh Thể không được thánh hiến. Tuy nhiên, Mình Thánh Chúa đã được trao cho các tín hữu bởi hàng chục linh mục. Sau khi Đức Giáo Hoàng đọc lời chúc bình an, phụng vụ đã kết thúc trong im lặng theo như là truyền thống Phụng Vụ của Giáo Hội trong ngày thứ Năm và thứ Sáu Tuần Thánh.
Tài Liệu - Sưu Khảo
Giải đáp phụng vụ: Chỉ Giám mục chủ sự đặt tay lên tiến chức linh mục.
Nguyễn Trọng Đa
08:58 07/04/2015
Giải đáp phụng vụ: Chỉ Giám mục chủ sự đặt tay lên tiến chức linh mục.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Sau bài trả lời của chúng tôi ngày 3-2 về việc một Giám mục đặt tay lên các tiến chức, một linh mục đã viết: "Tôi đồng ý rằng sẽ là không đúng cho một Giám mục cùng đồng thánh hiến một linh mục, nhưng Notitiae năm 1980, trong khi nói rằng rằng điều này là không thích hợp, không cấm một vị Giám mục khác hiện diện ở đó đặt tay lên tiến chức, với tư cách là một linh mục. Trước đây, trong lễ truyền chức linh mục của tôi, có hai Giám mục. Giám mục chủ sự làm mọi hành động, nhưng Giám mục đồng tế cũng đặt tay lên tiền chức. Tôi nghĩ chắc chắn điều này không thể bị coi là lỗi".
Đáp: Trước khi dịch bài trả lời này, người dịch xin điều chỉnh câu dịch trong Notitiae năm 1980: “Câu hỏi là: Trong một lễ truyền chức linh mục, liệu một Giám mục dự lễ có tham gia vào việc đặt tay sau vị chủ tế, và cùng với ngài đọc phần chính yếu của lời nguyện thánh hiến không?” (bài ngày 3-2)
Nói cho đúng là câu trả lời chính thức cho câu hỏi trên trong Notitiae không đồng ý cả hai hành động, nghĩa là một vị Giám mục thứ hai không đặt tay lên các tiến chức, và không cùng với Giám mục chủ sự đọc phần chính yếu của lời nguyện thánh hiến. Tuy nhiên, câu trả lời không xác định liệu một trong hai hành động tách rời hẳn ra có bị không chấp thuận chăng.
Câu trả lời cũng sử dụng công thức khá bất thường để nói rằng điều ấy là không thích hợp, có lẽ bởi vì các hành vi nghi thức được thực hiện bởi vị Giám mục thứ hai sẽ không ảnh hưởng đến việc truyền chức trong bất kỳ cách nào, nhưng có thể gây ra sự nhầm lẫn nghi thức với nghi thức tấn phong Giám mục.
Bởi vì câu trả lời chính thức không phải là rõ ràng trong suốt, tôi nói rằng nó hỗ trợ lập trường của tôi hơn là khẳng định lập trường của tôi.
Tuy nhiên, tôi vẫn tiếp tục cho rằng, về mặt nghi thức, sẽ là không đúng nếu một Giám mục tham gia vào việc đặt tay bổ sung trên tiến chức trong lễ truyền chức linh mục. Nghi thức chỉ nói đến việc các linh mục hiện diện đặt tay lên tiến chức. Một Giám mục có thể nói rằng ngài đang làm với tư cách một linh mục, nhưng, như là một Giám mục, mối quan hệ của ngài với các linh mục là khác đi, do vị thế phẩm trật của ngài. Vì vậy, ý nghĩa của việc đặt tay, vốn là một dấu hiệu của sự hiệp thông trong cùng chức linh mục, cũng sẽ là khác.
Thường có khoảng tám Giám mục đồng tế khi Đức Thánh Cha truyền chức linh mục cho Giáo phận Rôma, nhưng các ngài không tham gia vào việc đặt tay lên các tiến chức, vì việc này chỉ dành cho các linh mục hiện diện ở đó.
Chắc chắn chúng ta không nói về một lạm dụng nghiêm trọng nào đó. Đúng hơn, đây là trường hợp của đặc tính nghi thức, và tôn trọng những gì mà sách phụng vụ xác định. (Zenit.org 17-2-2015)
Nguyễn Trọng Đa
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Sau bài trả lời của chúng tôi ngày 3-2 về việc một Giám mục đặt tay lên các tiến chức, một linh mục đã viết: "Tôi đồng ý rằng sẽ là không đúng cho một Giám mục cùng đồng thánh hiến một linh mục, nhưng Notitiae năm 1980, trong khi nói rằng rằng điều này là không thích hợp, không cấm một vị Giám mục khác hiện diện ở đó đặt tay lên tiến chức, với tư cách là một linh mục. Trước đây, trong lễ truyền chức linh mục của tôi, có hai Giám mục. Giám mục chủ sự làm mọi hành động, nhưng Giám mục đồng tế cũng đặt tay lên tiền chức. Tôi nghĩ chắc chắn điều này không thể bị coi là lỗi".
Đáp: Trước khi dịch bài trả lời này, người dịch xin điều chỉnh câu dịch trong Notitiae năm 1980: “Câu hỏi là: Trong một lễ truyền chức linh mục, liệu một Giám mục dự lễ có tham gia vào việc đặt tay sau vị chủ tế, và cùng với ngài đọc phần chính yếu của lời nguyện thánh hiến không?” (bài ngày 3-2)
Nói cho đúng là câu trả lời chính thức cho câu hỏi trên trong Notitiae không đồng ý cả hai hành động, nghĩa là một vị Giám mục thứ hai không đặt tay lên các tiến chức, và không cùng với Giám mục chủ sự đọc phần chính yếu của lời nguyện thánh hiến. Tuy nhiên, câu trả lời không xác định liệu một trong hai hành động tách rời hẳn ra có bị không chấp thuận chăng.
Câu trả lời cũng sử dụng công thức khá bất thường để nói rằng điều ấy là không thích hợp, có lẽ bởi vì các hành vi nghi thức được thực hiện bởi vị Giám mục thứ hai sẽ không ảnh hưởng đến việc truyền chức trong bất kỳ cách nào, nhưng có thể gây ra sự nhầm lẫn nghi thức với nghi thức tấn phong Giám mục.
Bởi vì câu trả lời chính thức không phải là rõ ràng trong suốt, tôi nói rằng nó hỗ trợ lập trường của tôi hơn là khẳng định lập trường của tôi.
Tuy nhiên, tôi vẫn tiếp tục cho rằng, về mặt nghi thức, sẽ là không đúng nếu một Giám mục tham gia vào việc đặt tay bổ sung trên tiến chức trong lễ truyền chức linh mục. Nghi thức chỉ nói đến việc các linh mục hiện diện đặt tay lên tiến chức. Một Giám mục có thể nói rằng ngài đang làm với tư cách một linh mục, nhưng, như là một Giám mục, mối quan hệ của ngài với các linh mục là khác đi, do vị thế phẩm trật của ngài. Vì vậy, ý nghĩa của việc đặt tay, vốn là một dấu hiệu của sự hiệp thông trong cùng chức linh mục, cũng sẽ là khác.
Thường có khoảng tám Giám mục đồng tế khi Đức Thánh Cha truyền chức linh mục cho Giáo phận Rôma, nhưng các ngài không tham gia vào việc đặt tay lên các tiến chức, vì việc này chỉ dành cho các linh mục hiện diện ở đó.
Chắc chắn chúng ta không nói về một lạm dụng nghiêm trọng nào đó. Đúng hơn, đây là trường hợp của đặc tính nghi thức, và tôn trọng những gì mà sách phụng vụ xác định. (Zenit.org 17-2-2015)
Nguyễn Trọng Đa
Dân số người Việt Nam sống ở hải ngoại và Hoa Kỳ
Nguyễn Tài Ngọc
10:57 07/04/2015
(dấu chấm, phẩy trong con số của Mỹ ngược lại hẳn của mình: phẩy là chấm, chấm là phẩy):
![]() |
Cứ mỗi mười năm chính phủ Hoa Kỳ làm thống kê dân số. Đây là dữ kiện về dân số người Việt ở Hoa Kỳ rút tỉa từ tài liệu Kiểm Tra Dân số năm 2010 của United States Census Bureau:
1. Tổng số người Việt ở mỗi tiểu bang:
![]() |
Theo tài liệu trên thì :
- Người Việt nhiều nhất ở tiểu bang California (40%), Texas (12%), Washington (4%), Florida (4%), và Virginia (3%).
- So với thống kê dân số năm 2000 thì tiểu bang trên 4000 dân người Việt dọn đến nhiều nhất là Nevada (124%). Kế đến là Arizona (87%), Florida (76%), North Carolina (75%), Texas và Georgia (56%).
![]() |
*Little Saigon ở miền Nam California là do ba thành phố số 2,3,6 Garden Grove, Westminster, Santa Ana cộng lại.
![]() |
![]() |
![]() |
Hai nhân viên của Migration Policy Institute, Hataipreuk Rkasnuam và Jeanne Batalova, dùng tài liệu của U.S. Census Bureau’s American Community Survey (ACS), của Department of Homeland Security’s (DHS) Yearbook of Immigration Statistics, và World Bank’s Annual Remittance Data vào năm 2012, phân tích những dữ liệu liên quan đến người Việt Nam sống ở Hoa Kỳ:
a. Có 160,000 thường trú nhân người Việt sống bất hợp pháp ở Mỹ.
b. Dân Việt nói tiếng Anh dở nhất so với các dân khác đến từ phía Nam Á Đông:
-68% người Việt có Limited English Proficient (LEP), so với tất cả ngoại kiều ở Mỹ LEP là 50%, và dân đến từ Nam Á Đông LEP là 47%.
-Ở nhà, chỉ có 7% gia đình Việt Nam nói tiếng Anh, so với 15% tất cả gia đình ngoại kiều khác, và 11% gia đình của dân đến từ Nam Á Đông.
c. Năm 1982, 99% dân Việt được green card ở lại Mỹ theo diện tỵ nạn. Năm 2012, chỉ có 2% dân Việt được green card ở lại Mỹ theo diện tỵ nạn, còn 96% là theo diện gia đình bảo trợ.
d. Vào năm 2013, số tiền người Việt ở Mỹ gửi về Việt Nam là 11 tỷ dollars. Số tiền này bằng 6% GDP của nước Việt Nam.
(Nguồn: http://www.saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htm)
Ảnh Nghệ Thuật
Trang Ảnh Nghệ Thuật Chiêm/Niệm/Thiền: Đoá Mong Manh
Tôma Đỗ Lộc Sơn
22:17 07/04/2015
![]() |
Ảnh của Tôma Đỗ Lộc Sơn (Việt Nam)
Dù phong ba bão táp.
Dù tan nát đời hoa.
Vẫn tỏa hương thơm ngát.
(Tôma Đỗ Lộc Sơn)






